INDONESIA – SANUR & NUSA PENIDA

Trong hai ngày đầu tiên ở Bali trước khi tôi đi Java, Khunie đã dẫn tôi tới Sanur những hai lần chỉ trong một ngày. Một lần vào buổi chiều, chúng tôi sang bãi biển ngồi cafe đọc sách. Thực ra là tôi đọc sách, còn Khunie sau khi dạo một vòng bãi biển thì nó nằm ngủ dưới nắng như một con mèo. Tôi ngồi đọc hơn hai tiếng đồng hồ dưới nắng dưới gió biển, nghe tiếng sóng vỗ bờ và đám trẻ con tây chạy qua chạy lại lúc thì hò hét nhau xuống nghịch nước, lúc sau đã thấy gọi nhau đua xe đạp. Lâu lắm tôi mới lại ngồi bờ biển lâu đến thế, nó làm tôi nhớ đến những buổi chiều lười nhác ở Kohrong Samloem.

Trước khi về, chúng tôi đi dạo một vòng hết bờ kè biển, ngang khuôn viên mấy khách sạn resort mặt biển Sanur. Tôi ngó qua giá buffet hải sản trên bảng giá mà khách sạn Mercure dựng ngay quầy bar bên bờ biển của họ, chỉ khoảng 25USD++ cho bữa tối, một mức giá quá hấp dẫn. Tiện tay, tôi cũng lên mạng xem luôn giá phòng tại đây vào khoảng thời gian những ngày cuối hành trình, cũng là một mức giá vô cùng dễ chịu. Nếu lần đó Khunie ở lại Bali đến cuối hành trình như ban đầu nó dự kiến, có lẽ tôi sẽ rủ nó ở mấy khách sạn resort biển ở Sanur này cho bõ những ngày “vất vả” ở Java.

Lần thứ hai chúng tôi tới Sanur vào ngay chính buổi tối hôm đó, khi không tìm được chỗ nào để đi sau bữa tối, hai đứa lại xách con xe chạy hơn mười cây số từ sân bay sang Sanur chỉ để đi vòng vòng mấy cửa hàng quần áo và đồ lưu niệm trong phố cho Khunie mua đồ mang về. Buổi tối ở Sanur rất dễ chịu, thời tiết mát mẻ, cả trục chính khu phố chẳng có mấy xe qua lại, khách du lịch cũng thưa thớt. Khunie bảo Sanur là nơi hợp với tôi nhất ở khu vực trung tâm Bali, là chỗ dành cho những người già, không đông đúc, vì thế cũng chẳng ồn ào.

Lần thứ ba, sau khi rời khỏi Ubud, tôi lỡ giờ tàu sang đảo Penida và ở lại Sanur một đêm để đợi chuyến tàu ngày hôm sau.

Ở Sanur có nhiều quán bar có biểu diễn vào buổi tối, nhưng trong số đó chỉ có duy nhất một rock bar. Trong buổi tối ở lại Sanur trước khi sang đảo, tôi đã đi ngang qua rock bar đó đến ba lần khi đi tìm nhà hàng ăn tối, và mặc dù lần nào đi qua nó nhịp bước của tôi cũng chậm lại, tôi vẫn quyết định không bước vào. Hôm đó tôi đã có sẵn dự định ăn tối xong sẽ đi men theo con ngõ nhỏ ra con đường dọc bờ biển, chọn một quán bar bãi biển trong khuôn viên của một khách sạn, vừa ngắm trăng tròn mười sáu vừa chìm vào trong những giai điệu hòa nhịp với tiếng sóng dạt bờ.

Sanur là nơi mà tôi sẽ nhớ nhất trong chuyến đi Indo này, vì đến Sanur rồi tôi mới biết hóa ra nó là nơi mà tôi cần phải đến. Trong suốt cả chuyến đi, tôi cứ nói rằng tôi có cảm giác dejavu ở Jogja, rồi lại như đã từng nhìn thấy một nơi nào đó tương tự ở Bromo town, nhưng phải đến khi bước những bước chân thong thả trên con đường kè bên bờ biển một mình vào cái đêm bị mắc kẹt lại Sanur vì lỡ tàu, tôi mới ngỡ ngàng nhận ra khung cảnh này đã từng xuất hiện trong một giấc mơ của mình vào khoảng hai tháng trước. Chỉ là trong giấc mơ đó, tôi không chỉ có một mình, mà cùng với anh bạn mà tôi thích, chúng tôi đi cạnh nhau, trò chuyện hàn huyên như từng có đôi lần.

Sau hai vòng bước dạo bên bờ biển, ngang qua những chiếc đèn led vàng nhỏ thay ánh nến đặt trên mặt bàn gỗ trắng dịu êm lãng mạn, với vô số lần tự nhắc bản thân rằng dừng bước đi, lại xem menu đi, chọn một bàn trống và gọi phục vụ đi, tôi vẫn chịu thua tiếng nói vọng lại trái tim mình. “Nghe tiếng guitar tiếng bass kia không, tiếng trống đập như nhịp tim của mày nữa kìa, quay lại ngay đi còn chần chừ gì nữa”. Ừ nhỉ, tôi đang ở Bali cơ mà, nơi mà người ta vẫn nói với nhau rằng không cần phải lắng nghe bất cứ điều gì khác ngoài trái tim mình, thì cớ gì lại phải bỏ lơ thứ âm nhạc khiến tâm hồn mình xao động?

Và Sanur đúng là một nơi dành cho người già, chỉ người già mới đi nghe rock, và chỉ có những người già mới vừa nghe rock vừa ngồi im trầm ngâm tay gõ theo nhịp. Hôm đó, khi band chơi bài Faint của Linkin Park tôi đã ngồi lặng mất một lúc, không dám thở mạnh, chỉ dám ngồi im nhìn ca sĩ để tự chuẩn bị và điều chỉnh tinh thần. Đã lâu lắm rồi tôi không còn nghe Linkin Park nữa, không nói đến bài mới, ngay cả các bài cũ cũng đã không còn nghe nhiều nữa, vì một lý do mà ai biết đến LP đều biết. Trong số tất cả những bài hát của nhóm, Faint trong lòng tôi không có đối thủ, là bài hát mà khi nghe phải giữ tâm thật tĩnh, không được động lòng, bởi chỉ cần một chút dao động thôi sẽ khiến tôi bật khóc. Hình như sau đó band còn chơi thêm In the end, một bài nhạc buộc phải có như trong vô số các buổi rock cover khác, nhưng ngay cả đoạn nhạc đầu đặc trưng nhất của In the end cũng đã bị lu mờ trong tôi khi trước nó là Faint.

Sanur vốn không hề có trong lịch trình ban đầu của tôi, tôi thậm chí sẽ còn không biết đến sự tồn tại của nó nếu như không phải Khunie dẫn tôi đến vào những ngày đầu tiên. Và rằng nếu homestay tại Ubud còn phòng trống hôm đó, nếu như tôi không bị lỡ tàu, nếu như tôi chọn bước vào rock bar kia ngay từ đầu, nếu như hàng trăm cái nếu như khác xảy ra, tôi đã không ở trên con đường kè biển đó để mà phát hiện ra nó từng xuất hiện trong giấc mơ của mình.

Câu chuyện giấc mơ này chắc sẽ hấp dẫn hơn nếu ở đây tôi liên kết nó vào với Bali, hòn đảo nổi tiếng với những thứ gọi là tâm linh huyền bí, hoặc kể thêm với bạn một bí mật, rằng ở homestay trên đảo Penida mà tôi ở mấy ngày sau nữa, tôi gặp một bạn ở chung nhà có dáng người, phong cách nói chuyện và cử chỉ giống y hệt với người xuất hiện trong giấc mơ của mình. Thế nhưng, tôi không thích lý giải mọi chuyện bằng cách tô màu marketing lên nó như thế. Nếu nó là một tín hiệu, thì được rồi, giờ tôi đã biết tín hiệu đó muốn hướng tôi đến điều gì, đó chính là đời không như mơ.


Tôi làm gì trong bốn ngày ở Nusa Penida, khi mà người ta thường chỉ đi sang đảo buổi sáng, đi một vòng đảo check-in đủ các điểm chụp hình nổi tiếng và quay về ngay trong ngày. Tôi không biết. Ngay đến khi ngồi viết những dòng này, tôi vẫn mơ hồ về nó, khi mà tôi cứ mở trang viết ra lại chẳng nghĩ được một câu nào ra hồn, vì vốn nó đâu có hồn. Những ngày tháng đó, tôi đã thả trôi bản thân mình và dạt vào Penida.

Trên những chiếc cầu cảng tại bến tàu bên phía Sanur, màu nước xanh trong lấp lánh giữa trưa nắng gắt hút mắt đến mức trong đầu tôi lúc đó chỉ có duy nhất một ý nghĩ, đó là nhảy xuống, ý tôi là nhảy xuống chơi. Trong giây phút đó, ở những ngày cuối cùng của chuyến đi tôi mới bắt đầu có sự háo hức với nơi mà người ta thường gọi với cái tên thiên đường biển đảo.

Chiếc tàu du lịch chở khách cập bến phía đảo Penida sau khoảng 40 phút lướt êm trên mảng màu xanh ấy. Tôi tóm được một chị chạy xe ôm, à không, một chị xe ôm tóm được tôi, chúng tôi trao đổi giá cả, rồi chị chở tôi về homestay mà tôi đã đặt trước trên đồi Krusty, cách bến tàu hơn 2km.

Penida là một đảo lớn, diện tích và phân bố cũng tương đương như Cát Bà, một phần thị trấn dọc bãi biển dành chủ yếu cho các dịch vụ du lịch, và phần còn lại, đất đồi, rừng phía trong sâu hơn dành cho dân sinh. Căn homestay mà tôi ở nằm ở lưng con dốc lên đồi, cách bờ biển hơn một cây số, nằm ngay trên con đường nhựa xuyên giữa đảo, con đường chạy giữa những vườn cây xanh mát rượi che ánh nắng gắt giữa trưa hè trên hòn đảo nhiệt đới, rồi chuyển thành một màn đen kịt khi đêm về, khi mà cả con đường đi ra đến tận bờ biển chẳng có được mấy bóng đèn.

Tối đó tôi đi ra biển ngắm hoàng hôn, gọi tôm nướng và một chai bia lạnh. Phía thị trấn không phải là một hướng tốt để ngắm hoàng hôn nhưng ánh nắng chiều muộn của một ngày nắng cũng đủ khiến màu trời chuyển sắc. Gió biển, những giai điệu latin chơi bằng ghi-ta mộc, bia và tôm nướng là quá đủ đầy cho một chiều hoàng hôn hạnh phúc.

À tôi nhầm, thực ra nó không được đủ đầy cho lắm. Ngay khi mặt trời khuất bóng, bãi cát dọc bờ biển cũng không còn những đôi tình nhân dắt tay nhau đi dạo, cũng là lúc tôi thấy bụng mình kêu đói, mặc dù chính nó vừa mới được đãi một bữa ngon. Tôi trả tiền rồi đi dọc con đường ven thị trấn, lướt qua vài nhà hàng quán bar xập xình để rẽ vào Mệ Vui Penida. Tôi gọi một bát phở, một phần cuốn tôm nhỏ và một ly trà chanh đá, đó mới gọi là đủ đầy.

Sáng hôm sau, tôi dậy sớm hơn để chuẩn bị cho một ngày phượt đảo. Một chiếc xe trong sân có thể cho thuê đã được chọn bởi anh chàng mà tôi nói là giống người trong mộng của mình. Bạn ấy đang hỏi mượn anh chủ nhà chiếc cờ lê để chỉnh lại đôi gương lỏng ốc, gió chiều nào xoay chiều đó.

Tôi có một tính xấu là hay nghe lỏm người khác nói chuyện rồi tỉnh bơ cứ như thể mình không nghe thấy hoặc không hiểu gì, dù cho đó cũng không phải chuyện lén lút vì người ta nói ngay trước mặt tôi. Khi anh chủ hỏi bạn ấy có tự sửa được không, bạn nói không vấn đề gì, vì bố của bạn là kỹ sư cơ khí nên từ nhỏ bạn đã quen với mấy thứ dụng cụ cơ bản này rồi. Bạn làm tôi nhớ đến ước mơ có một tiệm sửa xe máy của mình, có lẽ cũng bởi vì hồi nhỏ hay chạy loanh quanh xem bố sửa xe và sửa mấy vật dụng trong nhà, cũng từng tò mò táy máy mấy chiếc tua vít, cờ lê vạn năng, hoặc những việc đơn giản như chỉnh lại đôi gương thì ít nhất tôi cũng không cần mang ra tiệm.

Khi ngồi ở sân nhà đợi anh chủ nhà mang xe thuê tới, tôi nhân tiện đăng ký tour lặn snorkerling được quảng cáo ở tấm bảng đen dựng tại quầy lễ tân cho buổi sáng ngày hôm sau. Vì không có nhiều khách ở lại Penida nên dịch vụ tour tuyến du lịch ở trên đảo vẫn chủ yếu là tự phát, với một hai nhà cung cấp dịch vụ chính rồi cả làng cùng gom khách, giá cả cũng tương đương nhau. Vừa đăng ký xong thì anh chủ nhà mang một chiếc xe mới về dựng trước cổng sẵn sàng phục vụ quý khách một ngày phượt đảo. Như những người cho thuê xe khác, anh hỏi lại tôi để xác nhận tôi chạy ổn, và ngay khi tôi hỏi anh rằng liệu có cần thiết phải đội mũ bảo hiểm, thì câu trả lời của anh không đi vào giải đáp vấn đề chạy xe trên đảo có an toàn hay không, mà là: “Trên đảo không có cảnh sát đâu”. Hahaha, đúng là những người cùng hệ tư tưởng :)))

Một vòng đảo Penida cũng là một vòng các điểm check-in nổi tiếng: Diamond Beach; Kelingking Beach và Broken Beach. Tôi là người có điều kiện về thời gian, nên cả ở Diamond và Kelingking Beach, tôi đều theo con đường ven núi dẫn xuống bãi cát phía dưới, để ngồi vùi chân vào cát và nghe những con sóng cao đến hơn nửa mét ầm ầm dữ dội dạt vào bờ, mỗi lúc một cao trào hơn. Để mà nói về phượt, một vòng đảo Penida là cung đường rất dễ chịu để vừa đi chầm chậm vừa ngắm cảnh, vừa dừng nhìn biển chỉ dẫn và đôi lúc là hỏi đường hoặc chỉ đường cho các đồng chí khác. Con đường quanh đảo lúc chạy ven biển, lúc chạy trên đường đồi, lúc qua những khu rừng thưa vắng không có nhiều ngã rẽ, và tại mỗi ngã rẽ người ta thường hay cắm những biển chỉ dẫn nhìn sơ sài, hoang dã nhưng vô cùng hữu ích. Chiều về, tôi đến điểm cuối cùng tại Broken Beach. Tôi dựng xe, đi một vòng ngắm những vách đá lớn dựng đứng như những cảnh quay ở Ireland trong không biết bao nhiêu bộ phim lãng mạn, và rồi quay về nhà hàng trên đỉnh đồi, gọi bữa tối và ngồi bệt trên chiếc đệm tựa ngắm hoàng hôn.

Tôi là người cuối cùng trong số khoảng gần hai mươi du khách hôm đó rời khỏi Broken Beach khi trời đã tối hẳn. Con đường trở về phải quay ngược lại đỉnh đồi rồi gần như chạy liên tục một đường ngoằn nghoèo xuống dốc. Có những đoạn trời tối mịt, hai bên đường là những rừng cỏ voi cao ngút mắt, con đường ven sườn đồi nhiều chỗ ngoặt bất ngờ, cứ phải chạy khoảng 2km trong bóng tối mới thấy lác đác vài mái nhà. Tại một đoạn chạy xuống con dốc dài, tôi giảm ga thật chậm vì trời quá tối không thể nhìn xa. Khi không cần phải tập trung vào nhìn đường, thu lại trong tầm mắt là phía cao trên không trung cả một bầu trời sao dày đặc. Lúc đó, nỗi sợ khi chạy xe một mình giữa đồi không mông quạnh biến đi đâu mất, chỉ còn sự thư thái và cảm giác sung sướng hạnh phúc từng chút từng chút khẽ len lỏi vào dòng chảy cảm xúc. Nỗi sợ của tôi chẳng bao giờ kéo dài được, bởi trong 16 nhân cách MBTI, tôi là một người thám hiểm. Vậy là suốt cả quãng đường cho đến tận khi về tới nhà, tôi chẳng bao giờ lên ga thật mạnh nữa, vừa đi thật chậm nghe gió thoảng, vừa mê mải ngắm sao.

Đối với tôi, Penida là kỳ nghỉ trong kỳ nghỉ, là nơi mà tôi không đặt cho mình một đích đến, kế hoạch hay hạn định về thời gian nào để thoải mái thả bước theo cảm nhận của thực tại, để hoàn toàn không nghĩ ngợi bất cứ điều gì khi hòa mình vào từng nhịp đạp chân vịt khi đi tour snockerling ở Crystal Bay, bơi đuổi theo sau guide ra xa tàu để tìm kiếm cơ hội có thể nhìn thấy manta. Tôi nghĩ đây chỉ là một trong những cụm điểm lặn làng nhàng dành cho những khách hàng không chuyên ở Penida, với một đội ngũ nhân viên luôn sẵn sàng máy chụp/quay hình dưới nước (gopro) để lưu lại cho du khách một vài hình ảnh check-in trong một khoảng thời gian ngắn ngủi khi tàu dừng ở mỗi điểm lặn, vậy mà độ trong của nước và sự đa dạng sinh vật đã đủ mãn nhãn khi vừa úp mặt xuống. Tất nhiên, vẫn biết rằng lặn biển vốn nổi tiếng là một trong những hoạt động thu hút nhiều khách du lịch nhất đến với đất nước vạn đảo, nhưng điều đó không khiến cho tôi giảm bớt đi sự ngạc nhiên và thích thú trước một trải nghiệm tốt. Và cũng bởi vậy, tôi đã đặt thêm một tour nữa vào sáng ngày hôm sau khi không có hoạt động nào khác, tôi muốn thả mình xuống biển nhiều hơn.

Trưa về, tôi về lại homestay tắm giặt thay đồ rồi đi bộ ra thị trấn ăn trưa muộn và cà phê đọc sách buổi chiều. Ban đầu, tôi định sẽ ở homestay này hai đêm đầu tiên, một ngày vừa tới và một ngày đi phượt đảo, rồi sau đó sẽ tìm một căn ven biển giống các resort nhỏ chỉ để nghỉ ngơi, đọc sách chiều chiều đi dạo biển. Thế nhưng, sau khi tìm một vòng các chỗ nghỉ trên đảo, tôi đã từ bỏ ý định đó và thay nó bằng hai ngày liên tiếp sáng đi tour lặn biển rồi chiều về cà phê đọc sách, vừa có nhiều tiền hơn cho ăn uống lại vẫn đủ thư giãn.

Nhà hàng Mệ Vui ở Nusa Penida có anh quản lý đã từng ở Việt Nam 12 năm và nói tiếng Việt bằng giọng miền Nam. Giọng con trai miền Nam mà không phải cái tông chói lóa ấy, nó mềm, nó ấm, nó lịch thiệp nhã nhặn. Ban đầu, khi tự nhiên nghe thấy tiếng Việt, lại là giọng Nam nghe chưa quen tai, tôi đã phải hỏi lại anh ta tới hai lần mới nghe ra ảnh đang hỏi: “Ăn được không?”. Tôi không thấy ở Nusa Penida có nhiều khách Việt Nam đi du lịch tự túc, nên tôi đoán anh ta nhận ra tôi là người Việt Nam khi anh ngồi bàn bên cạnh như một người khách khác, thấy tôi chỉ ngó qua menu rồi gọi món một lèo rất tự tin, và khi đồ ăn được đưa ra, bước đầu tiên trong quy trình ăn món bún trộn của tôi là múc một thìa nước mắm đầy lên nếm, sau đó lần lượt thêm chanh, thêm ớt sa tế và hỏi xin thêm đá để uống cà phê sữa. Sau lần đầu tiên ăn phở ở bữa tối trước đó, tôi nhận ra phở không phải là điểm cộng của nhà hàng này, mặc dù khách nào đến cũng sẽ gọi một tô phở, thay vào đó bún trộn thịt nướng ngon hơn và nước mắm khá đậm vị. Riêng món gỏi cuốn tôm chấm mắm nêm thì phần mắm nêm bên này bỏ thêm nhiều bơ lạc, hay tại trong menu ghi là chấm sốt bơ lạc mà tôi không đọc kỹ, nên tôi không thấy ngon, tôi pha mắm với chanh và sa tế để tự làm đồ chấm riêng. Chỉ thấy vui rằng các nhà hàng quán ăn Việt Nam ở nước ngoài lúc nào cũng khá đông khách, ít nhất là so sánh với những quán kế bên.

Ngày cuối cùng, tôi nhận ra mặt mình đã cháy nắng đen thui sau khi trở về từ bến tàu. Tôi chạy ra quán cà phê được bạn giới thiệu rồi ngồi đó cả buổi chiều, đọc hết hai phần ba cuốn “Eat, pray, love”, tới một nửa phần viết về Indo. Thi thoảng dừng ngắm tít xa ngoài khơi cải thiện thị lực, rồi lại tiếp tục với những trang sách. Đến chiều tà, tôi xách con xe đi ngược ra phía bến tàu rồi chạy lên đồi theo hướng mặt trời lặn để tìm một điểm không bị cây cối che tầm nhìn, dừng chân ngắm chiều hoàng hôn cuối cùng trên đảo. Đằng nào cũng đã bị cháy nắng, tôi cũng không ngại phơi thêm chút gió bụi trộn lẫn với hơi muối biển trong không khí. Ở trên đồi đến tận khi nắng tắt hẳn, tôi qua lại thị trấn ăn tối rồi đi chầm chậm men con đường về nhà. Chỉ cần chạy qua đoạn vườn ai mướt quá đen như mực là sẽ tới con đường dẫn lên đồi, thoáng đãng ngập trời sao. Tiếc là chỉ chạy trên con đường đó một đoạn ngắn xíu tôi đã về đến nhà.

Vậy là hành trình cuối cùng kết thúc tại đó.

Hôm sau, tôi quay lại bờ Sanur và đón xe ra sân bay. Chú chạy grab vừa chở tôi vừa nói chuyện, nào là hỏi tên, công việc, mức thu nhập, mức sống trung bình ở Việt Nam, rồi cả tình cảm yêu đương, tại tôi hay nói với người lạ là tôi có bạn trai rồi. Mỗi lần tôi nói cái tên Quỳnh bằng tiếng Việt, người ta lại sẽ đều hỏi lại tôi là: “Queen á? Queen Elizabeth đấy á?”. Chú bảo tôi hay cười, nên không giống queen (nữ hoàng) mà giống princess (công chúa) hơn. Với khuôn mặt cháy nắng đen thui mà sau này em tôi miêu tả là thêm cái hình trăng lưỡi liềm dán lên trán là thành Bao Công, tôi lại thấy mình xinh hơn bình thường một chút mỗi khi cười.

Trên con đường mê cung ma trận các gian hàng kéo dài từ điểm kiểm tra hải quan tại sân bay Bali ra đến cửa lên máy bay, tôi đã cố gắng tiêu hết số tiền Indo còn lại trong tay bằng việc mua được mấy bánh xà bông thủ công mùi hoa nhài và bạc hà, được ghép cặp với nhau bằng những hộp giấy có nút cài cắt hình bông hoa đại, những bánh xà bông mà đến tận bây giờ ở nhà bố mẹ tôi vẫn đang còn, mỗi khi dùng lại ngửi thấy phảng phất những mùi hương của Bali.

Leave a comment