NEPAL – KATHMANDU

Kathmandu có lẽ không phải là một “điểm đến chính” đối với nhiều người, nhưng tôi đã rất muốn có nhiều thời gian để lang thang Kathmandu, và đã rất tiếc vì chuyến đi này thời gian ở lại Kathmandu khá ít. Ban đầu, tôi đã làm lịch trình ở Kathmandu nhiều ngày hơn, nhưng vì liên quan đến các chuyến bay, vì tham lam muốn có thời gian tranh thủ thời gian đi chơi ở Ấn Độ 3 ngày mà tôi đã rút ngắn thời gian ở Kathmandu lại.

Buổi chiều từ Bhaktapur chạy sang, tôi chỉ kịp cất đồ, nghỉ ngơi một chút thì trời đã trờ tối, đành vội vội vàng vàng thay một bộ đồ rồi chạy lên quầy bar trên tầng thượng, tìm một góc bàn bên khung cửa kính, vừa đuổi kịp những phút cuối cùng của áng chiều hồng rực phía rặng núi bên rìa thành phố. Ban đầu, tôi chỉ định gọi đồ uống ngắm khoảnh khắc ngày tàn đêm buông rồi lang thang tìm một nhà hàng cho bữa tối, nhưng cuối cùng, không chống lại được cơn đói cồn cào, tôi gọi luôn một khay momos hai loại nhân: rau chay và thịt trâu, cùng một ly cocktail vị quả lựu, màu cam hồng tiệp vào màu hoàng hôn. Sau này tôi mới biết, Nectar by Carpediem – quầy bar tầng thượng nơi tôi ở là một trong những bar ngắm hoàng hôn nổi tiếng nhất ở Kathmandu. Vậy là tôi lại được cộng một điểm may mắn trong bài thi nhân sinh của mình.

Kathmandu là một trung tâm du lịch lớn (travelhub) cho tất cả những chuyến khám phá vùng núi Himalaya trên địa phận Nepal, và cả những chuyến hành hương về Lâm Tì Ni. Khách đến Nepal, không ít thì nhiều, không chặng ngắn thì chặng dài, hầu như ai cũng sẽ tham gia vào một cung trek, nên cả khu phố chợ trung tâm Kathmandu, ngoài các tiệm đồ lưu niệm thì phần còn lại đa số đều là cửa hàng bán đồ dã ngoại.

Không có giầy leo núi, chưa chuẩn bị áo khoác chống thấm, không có áo giữ nhiệt, không có ba lô, găng tay, mũ, tất? Không sao hết, đây là Kathmandu, mặt hàng nào cũng có, chất lượng tùy chọn, giá nào cũng bán, chỉ cần bạn có thời gian đi lựa và một kỹ năng mặc cả tốt. Và xin được đảm bảo với quý khách, tất cả các mặt hàng in tên các thương hiệu lớn tại đây, đều là hàng giả, hàng nhái và hơi kém chất lượng.

Với hành lý tiết kiệm chỉ 7kg (mà thực tế là 8kg nhưng nhân viên VJ lúc nào cũng rất nhẹ nhàng với tôi), tôi chỉ mang theo một quần mau khô và một áo khoác gió mỏng chuyên phục vụ cho việc đi núi, cùng với các loại quần áo bình thường khác. Có lẽ do được cuộc đời quá ưu ái, tôi, một con người vừa chịu được lạnh, thích trời lạnh và không bị phản ứng với độ cao, không cần phải chuẩn bị thêm gì nhiều cho đoạn đường sắp tới. Tôi chỉ chọn mua cho mình thêm một chiếc quần mau khô nữa để thay đổi trong những ngày lên núi, một ba lô nhỏ để mang đồ cá nhân trên đường. Nói gì thì nói, trang phục dã ngoại cũng có thể được tính là một loại đặc sản mà mọi du khách đều phải mua khi đến với Nepal. Và thêm một chiếc chân váy quây dài gần tới mắt cá chân may bằng những miếng vải đáp nhiều màu mà tôi tình cờ liếc qua ngay khi ông chủ đang chuẩn bị đóng cửa hàng.


Đã dành thời gian ở Bhaktapur, tôi không mấy mặn mà với Kathmandu Dubar Square nữa, chỉ có một mong muốn duy nhất là đến gặp nữ thần Kumari theo lịch vào mười một giờ sáng tại Kumari Ghar (House).

Kumari, nữ thần sống, đại diện và được cho là hiện thân sống của nữ thần Taleju Bhawani. Truyền thuyết kể rằng các vị vua cổ đại của Nepal là tín đồ của nữ thần Taleju, bà thường đến cung điện để chơi bài với các vị vua. Do một xung đột với Vua Jayaprakash Malla, nữ thần đã nổi giận và biến mất. Sau vô số lời cầu nguyện xin sự tha thứ của nhà vua, bà đã xuất hiện trong giấc mơ của ông và yêu cầu nhà vua chọn một Kumari trẻ để bà nhập thân, để mọi người có thể tiếp tục tôn thờ bà. Một ứng cử viên Kumari được chọn từ một gia đình Phật tử thuộc dòng họ Shakya. Kumari được chọn được tôn kính bởi cả các Phật tử và những người theo đạo Hindu. Trong quá khứ, ngay cả các vị vua Shah cũng tuân theo truyền thống nhận tika và phước lành từ bà. Thi thoảng, bà được đưa ra khỏi nhà của mình để tham gia một số lễ hội. Khi một Kumari đến tuổi dậy thì, bà mất đi địa vị thần thánh và quá trình lựa chọn một Kumari khác lại bắt đầu. Có nhiều Kumari khác nhau ở Patan, Bhaktapur, Bungmati, Thimi và các thị trấn Newar khác. Quá trình tuyển chọn Kumari giống với quá trình tuyển chọn các Lạt ma Tây Tạng. – Theo https://ntb.gov.np/living-goddess-kumari

Kumari cũng đã từng là một đề tài gây tranh cãi tại Nepal khi có quá nhiều định kiến xã hội và quy tắc ảnh hưởng tới sự phát triển của cô gái và gia đình. Nghe nói, trước kia những bé gái được chọn trở thành Kumari được quy định là không được phép kết hôn ngay cả khi đã trưởng thành, nhưng sau này luật lệ này dần dần đã được gỡ bỏ.

Lúc tôi tới mua vé, chú bán vé rất tiếc phải thông báo với tôi rằng hôm đó vẫn đang ở trong những ngày nghỉ lễ chính thức, du khách không có cơ hội gặp được Nữ thần. Chú rất thân thiện đánh dấu vào vé của tôi và dặn có thể quay lại vào ngày hôm sau, không cần phải mua vé mới vẫn có thể vào thăm Kumari Ghar. Chỉ đáng tiếc, tôi không có nhiều thời gian ở Kathmandu như thế, đành vào sân chụp mấy kiểu ảnh rồi đi ra. Nhà của Kumari theo kiến trúc tứ hợp viện, mỗi chi tiết trên cửa, cửa sổ, cửa thông gió đều rất tỉ mỉ, ngay đến tường đều được sơn bóng bảo quản rất đẹp, nhưng chụp ảnh lên thì không được tấm nào có ánh sáng hay màu ảnh đẹp ra hồn hết cả.

Tôi đi một vòng quanh khu quảng trường cho bõ tiền vé, rồi leo lên các ngôi tháp cao ngồi hóng gió và ngắm mọi người đi lại. Một lúc, tôi đứng dậy đi bộ ngược lại trở về nhà, ghé thăm bất cứ ngôi đền thờ nào nhìn thấy trên đường. Ngày lễ, người ta bôi tika lên khắp mọi nơi, trên trán, tại điểm luân xa con mắt thứ ba hoặc con mắt tâm linh, đôi khi là các bộ phận khác trên cơ thể như cổ, tay, ngực hoặc cánh tay, hay trên các cổng đền cổng miếu, trên các tượng linh thú hay ngay trên nền đất trước cửa nhà. Nhìn bất cứ nơi đâu cũng thấy một dấu bột màu hồng đậm.

Tôi ghé vào một tiệm trưng bày và bán các loại nhạc cụ, đồ lưu niệm Nepali trên đường về nhà. Tôi luôn có một sự tò mò với âm nhạc, âm thanh, mặc dù chẳng hiểu gì về nó. Nepal có một số loại nhạc cụ dân gian bộ dây, nổi bật nhất là Sitar và Sarangi, và mấy loại trống vỗ mà tôi đã nhìn thấy họ chơi trong buổi lễ trước đó tại Bhaktapur, phát ra những âm thanh mang đậm màu Hindi. Đứng đây lại nghĩ, may mà tôi nghèo, chứ nếu không thì lại phải xách một món về làm kỷ niệm. Haha

(Nhân tiện, gần đây tôi đang đọc cuốn “Lược sử âm nhạc” – Tác giả: Robert Philip; Dịch giả: Mai Đức Hạnh – Nguyễn Anh Tùng, mới được dịch và xuất bản. Sách đọc rất cuốn, rất phù hợp để người bình thường cưỡi ngựa xem hoa qua lịch sử âm nhạc thế giới)

Buổi chiều, sau khi chuyển đồ sang khách sạn mới và dành vài tiếng đồng hồ tắm giặt, nghỉ ngơi và sạc pin điện thoại, tôi ra đường vẫy một chiếc taxi lên đồi.

Tôi không đi bảo tháp Boudhanath, được cho là buộc phải đến ở Kathmandu, một trong những bảo tháp lớn nhất thế giới, được bảo quanh bởi những tu viện nhỏ của dòng người tị nạn từ Tây Tạng những năm 50 của thế kỷ trước. Bảo tháp Boudhanath được cho là nơi lưu giữ tro cốt của Phật Ca Diếp (hay còn gọi là Kashyapa trong các kinh sách Phật giáo bằng tiếng Phạn), là vị Phật thứ ba trong số năm vị Phật của hiền kiếp theo tín ngưỡng Phật giáo, và cũng là vị Phật thứ sáu trong số sáu vị Phật trước Phật Thích Ca Mâu Ni. Bức ảnh tượng phật Ca Diếp trên Wikipedia tôi nhìn thấy rất quen mắt, sau khi đọc được dòng chú thích ảnh chụp tại chùa Ananda ở Bagan, Myanmar tôi mới nhớ ra mình đã từng đi qua và chụp một bức hình tương tự, bởi đó là một bức tượng rất lớn rất cao, Ananda cũng là một trong những ngôi chùa lớn nhất, nổi bật nhất trong quần thể Bagan.

Đổi lại, tôi tới một bảo tháp khác ở trên đỉnh đồi phía tây của thung lũng Kathmandu – khu phức hợp chùa tháp Swayambhunath hay gọi theo một cách khác dễ nhớ hơn là Monkey Temple, nơi cư ngụ của một đàn khỉ có số lượng thành viên lớn đã sinh sống tại đó qua hàng thế kỷ. Từ cổng chùa, tôi đi theo hướng bậc thang bên tay trái, leo một đoạn để lên phía tu viện trước, rồi mới quay lại, đi đoạn bậc thang bên phải để lên bảo tháp Swayambhunath.

Bảo tháp Swayambhunath là một trong những niềm vinh quang của kiến ​​trúc tại Thung lũng Kathmandu. Một tượng đài có tỷ lệ hoàn hảo mọc lên xuyên qua một mái vòm trắng, kế là đến một ngọn tháp dát vàng, từ đó bốn khuôn mặt mang tính biểu tượng của Đức Phật nhìn ra thung lũng theo các hướng chính. Toàn bộ cấu trúc của bảo tháp mang tính biểu tượng sâu sắc: mái vòm trắng tượng trưng cho trái đất, trong khi cấu trúc giống như tòa tháp 13 tầng ở trên cùng tượng trưng cho 13 giai đoạn đến niết bàn. Đường ngoằn ngoèo giống như mũi bên dưới đôi mắt sắc nhọn thực ra là số ek – số một trong tiếng Nepal, biểu thị sự thống nhất, và bên trên là con mắt thứ ba biểu thị sự sáng suốt toàn diện của Đức Phật. Bảo tháp bị ảnh hưởng nặng nề do trận động đất năm 2015. Theo Lonely Planet – Swayambhunath Stupa

Lúc đứng ngắm hoàng hôn bao phủ cả thành phố từ Monkey Temple, tôi đã nghĩ rồi sẽ lại có những lúc bất giác tôi nhớ về Kathmandu, một thành phố bên đồi, giống như Budapest, hay giống như Mandalay. Không biết có phải độ tuổi tâm hồn của tôi vẫn đang ở con số 23, cái năm mà tôi đã đến Myanmar hay không mà đi bất cứ đâu tôi cũng đều có thể nhìn thấy hình bóng Myanmar ở đó. Mà buồn thay, Myanmar lại động đất, lần này tâm chấn lại ở đúng ngọn đồi Sagaing, nơi có nhiều chùa tháp, tu viện nhất tại khu vực Mandalay.

Trời tối, tôi bước xuống bậc thang quay lại cổng chùa, rồi men con đường dốc đi bộ xuống đồi, bỗng nhiên có cảm giác giống như đi con đường ven của khu chỉ huy chiến dịch Mường Phăng ở Điện Biên. Xuống đến đường lớn ở chân đồi, đi qua cầu sang bên kia sông đã là khu dân cư ở trung tâm thành phố.

Đường vào khu phố chợ trung tâm chỉ một con đường thẳng khoảng gần hai cây số, lại không phải đường lớn nhiều xe cộ nên tôi không cần chú ý nhiều đến bản đồ và đường sá, thoải mái nhìn ngó cuộc sống quanh mình. Bảy giờ trời đã tối, bên đường cứ cách một hai nhà lại có một tiệm tạp hóa nhỏ bán đủ thứ từ bánh kẹo, quần áo trẻ em và cả túi vải, ba lô nhỏ, đi vài bước lại gặp một tiệm bán thịt, thịt gà và thịt trâu, vài bước nữa lại gặp một tiệm bán hoa quả. Đó là những thứ được bán nhiều nhất ở Kathmandu. Vừa đi vừa nghe những âm thanh chân thực của những cuộc trao đổi mua bán, của những lời chào hỏi. Tôi đi ngay phía sau một nhóm gia đình đi lễ về, chuyện trò rất rôm rả. Mặc dù tôi nghe không hiểu, nhưng cũng có thể cảm nhận được không khí vui vẻ qua giọng điệu và những tiếng cười đùa, cảm giác như mình là một phần tử trong đó.

Ngay giây phút ấy, tôi cảm giác như mình đang thực sự sống ở thành phố này, đi lễ về muộn và đang trên đường đi đến một nhà hàng, một quán ăn dùng bữa tối. Đó cũng là một trong những điểm thu hút của việc đi du lịch một mình, rằng đôi khi bạn có thể hòa mình vào không gian của một nhóm người địa phương hay một nhóm khách du lịch khác, mượn tạm không khí, trạng thái cảm xúc của họ để cân bằng năng lượng với những khoảng trống một mình.

Bữa tối hôm đó tôi đã đi ăn món Tạng, rồi thong thả đi bộ về khách sạn để chuẩn bị đồ đạc sáng ngày hôm sau khởi hành sớm đi Pokhara. Thời gian còn sớm, tôi xuống sân khách sạn gọi một ly cocktail, vừa đứng xem bartender pha chế vừa nghe bạn kể về nguồn gốc bộ gen Mông Cổ của phần lớn người Pokhara.

Bạn pha xong, tôi đem ly cocktail ra chọn một bàn ngồi giữa sân, thảnh thơi nghe nhạc, xem điện thoại, tận hưởng nốt thời gian còn lại của buổi tối. Thời tiết tháng 10 se se lạnh, tuyệt vời.

8 thoughts on “NEPAL – KATHMANDU

  1. trong post này có một câu vu vơ nhưng thú vị, nhắc đến một điều mình từng muốn viết mà thiếu đi cái gì đó kích hoạt. Nên xin phép mượn để dùng sau, còn cụ thể là câu nào thì không nói đâu.

    Like

      1. Bác có biết là gần đây người ta bắt rất nhiều ổ nhóm cờ bạc cá độ không? :)))
        Mặc dù phân vân nhưng em vẫn chọn câu này:
        Đó cũng là một trong những điểm thu hút của việc đi du lịch một mình, rằng đôi khi bạn có thể hòa mình vào không gian của một nhóm người địa phương hay một nhóm khách du lịch khác, mượn tạm không khí, trạng thái cảm xúc của họ để cân bằng năng lượng với những khoảng trống một mình.

        Liked by 1 person

  2. Nhận mail thông báo post mới của Táo mấy năm nay rồi. Luôn nhiều cảm xúc. Chúc Táo tiếp tục có những chuyến đi tuyệt dzời nhoa :3

    Liked by 1 person

Leave a comment