INDONESIA – JOGJA (YOGYAKARTA)

“Nếu bình minh không rực rỡ, nếu hoàng hôn ngày mai không quyến rũ, xin đừng ai nhắc tôi về Jogja” – đó là những gì tôi đã nghĩ khi ngồi tại sảnh chờ trong sân bay Bali, lần đầu tiên trong cuộc đời được trải nghiệm hoãn chuyến 5 tiếng đồng hồ, tôi không ngờ Indo lại ưu ái mình đến thế. Sau hai ngày loanh quanh trung tâm Bali, sân bay là nơi khiến tôi cảm nhận rõ ràng nhất rằng mình đang ở Indonesia, là khi trong 5 tiếng đồng hồ hoãn chuyến ấy, nơi tấp nập người ra vào nhất trong khu vực sảnh đợi lên máy bay là căn phòng được gắn biển “Phòng cầu nguyện”.

“Nếu phải đi taxi, quãng đường từ sân bay về thành phố luôn là đoạn đường buồn tẻ, chán nản nhất”. Tôi đã ghi dòng ghi chú này vào sổ tay trên chuyến xe taxi từ sân bay YIA về tới homestay ở Jogja vào lúc 11 giờ đêm, và nó đích thị là đoạn đường buồn tẻ nhất. Chưa nói đến việc tâm trạng đi xuống vì phải trải qua một thời gian dài chờ đợi và một chuyến bay hơn một tiếng đồng hồ lúc tối muộn, chỉ riêng việc đi taxi đã là một điều nhàm chán. Tôi thực sự đã không chuẩn bị cho điều tẻ nhạt đó. Nếu như chuyến bay không bị hoãn, tôi đã có cơ hội trải nghiệm tàu điện từ sân bay về ga trung tâm Jogja, một loại phương tiện vừa nhanh, vừa tiết kiệm lại cũng có thể sẽ mang đến hàng tá những điều bất ngờ thú vị.

Khách du lịch đến Jogja có lẽ đều vì điểm sáng rực rỡ nhất trên bản đồ du lịch Indonesia – ngôi đền Phật Giáo Borobudur. Là ngôi đền Phật Giáo đơn lập lớn nhất thế giới, có những người thậm chí đến với Jogja chỉ cho duy nhất mục đích chiêm ngưỡng ngôi đền Borobudur và không còn thêm bất cứ một điều gì khác nữa. Ban đầu, Jogja với tôi cũng chỉ là như vậy, và cho đến khi chuyến đi hoàn thành, để nhắc về những điểm du lịch nổi bật đã ghé thăm, Jogja về cơ bản cũng vẫn là như vậy.

Borobudur Temple Compounds – This famous Buddhist temple, dating from the 8th and 9th centuries, is located in central Java. It was built in three tiers: a pyramidal base with five concentric square terraces, the trunk of a cone with three circular platforms and, at the top, a monumental stupa. The walls and balustrades are decorated with fine low reliefs, covering a total surface area of 2,500 m2. Around the circular platforms are 72 openwork stupas, each containing a statue of the Buddha. The monument was restored with UNESCO’s help in the 1970s.
Quần thể đền Borobudur – Ngôi đền Phật giáo nổi tiếng này, có niên đại từ thế kỷ 8 và 9, nằm ở trung tâm Java. Nó được xây dựng thành ba tầng: một đế hình kim tự tháp với năm bậc thang hình vuông đồng tâm, thân hình nón có ba bệ hình tròn và trên cùng là một bảo tháp hoành tráng. Các bức tường và lan can được trang trí bằng những bức phù điêu thấp tinh xảo, có tổng diện tích bề mặt là 2.500 m2. Xung quanh các bệ hình tròn là 72 bảo tháp lộ thiên, mỗi bảo tháp có tượng Phật. Tượng đài đã được khôi phục với sự giúp đỡ của UNESCO vào những năm 1970.

Giới thiệu về Borobudur trên trang web của UNESCO và bản dịch từ Google

Borobudur là một ngôi đền đơn lập thay vì là một quần thể nhiều ngôi đền như Angkor hay Bagan. Và cách bảo tồn di tích hiệu quả nhất chính là hạn chế số lượng khách tham quan trong một ngày. Số lượng vé vào khu vực chung của quần thể là không giới hạn, nhưng để lên thăm đền chính thì số lượng khách mỗi ngày được giới hạn ở con số 1200 và mỗi giờ là 150 người. Du khách mua vé lên đền cần phải mua trên trang web chính thức của di tích, đăng ký trước khung giờ và chỉ được phép tham quan đúng trong khung giờ đã đăng ký theo một nhóm 15 người có hướng dẫn viên tại điểm (miễn phí). Trong thời gian chờ đến đúng giờ tham quan, du khách được yêu cầu thay giày dép bằng một đôi dép xỏ ngón đan cói được Ban quản lý di tích chuẩn bị riêng để đi trong khu vực, được phát một chiếc túi vải mỏng để đựng giày dép cá nhân mang theo và một chai nước nhỏ. Đôi dép xỏ ngón đan cói này cũng là quà kỷ niệm của Borobudur mà du khách có thể mang về sau khi kết thúc tour.

Chú hướng dẫn của đoàn tôi hôm đó ở Borobudur nói về Phật giáo và về Borobudur rất say sưa, nhưng như bao nhiêu con người khác tại Java thì chú theo đạo Hồi. Đi theo hỗ trợ chú chốt đoàn là một bé thực tập sinh đang học năm cuối ngành du lịch, em đi theo phụ tá và thu thập đánh giá về viết báo cáo thực tập. Tôi nhớ hồi sinh viên mỗi lần đến kỳ viết báo cáo là chúng tôi cũng chạy hết Lăng Bác đến Văn Miếu, với một xấp phiếu đánh giá in sẵn trên tay, làm phiền hết khách này đến khách khác. Lúc đứng đợi mọi người tham quan tự do, tôi mượn cờ tour để chụp một tấm hình, thỏa mơ ước được làm tour guide bấy lâu nhưng do hướng nội và ít nói nên không bao giờ có cơ hội thực hiện được, em tranh thủ nhờ tôi viết mấy dòng đánh giá về Borobudur. Đang vừa viết vừa nghĩ chắc kiếp sau mình có thể làm một hướng dẫn viên thì nghe thấy giọng chú hướng dẫn nói với cả đoàn: “Okay, chụp nốt bức hình này rồi chúng ta đi thẳng lên Niết bàn luôn nhé” (Niết bàn là tầng tháp cao nhất tại Borobudur, cũng như là cảnh giới cao nhất của Phật Giáo). Tôi bật cười nghĩ: ủa, không đâu, đến Niết bàn sớm thế làm gì, cháu còn phải có kiếp sau để làm hướng dẫn viên, còn muốn có thêm tám kiếp nữa để mà qua bể khổ cơ, đi thẳng đến Niết bàn luôn thì chán chết.

“Nếu bình minh không rực rỡ, nếu hoàng hôn ngày mai không quyến rũ, xin đừng ai nhắc tôi về Jogja”. Tôi viết dòng ghi chú này là bởi khi đến thăm Jogja, người ta có hai điểm mốc để xây dựng lịch trình: đón bình minh ở Borobudur và ngắm hoàng hôn ở Prambanan.

Prambanan là quần thể di tích đền Hindu và Phật Giáo (Sewu Temple trong cùng quần thể), nơi mà một góc nào đó trong nó sẽ gợi bạn nhớ về Angkor Thom và một góc nào đó là cả Ninh Thuận (nếu bạn đã có dịp đến hai nơi trên). Cũng giống như Borobudur, Prambanan là biểu tượng tôn giáo và lịch sử nổi tiếng nhất tại Java, và hiện giờ chỉ còn là một quần thể di tích, hy hữu sẽ đón đoàn hành hương hoặc tổ chức lễ hội chứ không còn là một địa điểm tôn giáo thường nhật nữa.

Built in the 10th century, this is the largest temple compound dedicated to Shiva in Indonesia. Rising above the centre of the last of these concentric squares are three temples decorated with reliefs illustrating the epic of the Ramayana, dedicated to the three great Hindu divinities (Shiva, Vishnu and Brahma) and three temples dedicated to the animals who serve them.
Được xây dựng vào thế kỷ thứ 10, đây là quần thể đền thờ lớn nhất thờ thần Shiva ở Indonesia. Mọc lên giữa trung tâm mặt sàn cao nhất của khối những hình vuông đồng tâm này là ba ngôi đền được trang trí bằng các bức phù điêu minh họa sử thi Ramayana, thờ ba vị thần Hindu vĩ đại (Shiva, Vishnu và Brahma) và ba ngôi đền dành riêng cho các loài động vật (linh thú) phục vụ họ.

Giới thiệu về Prambanan Temple trên trang web của UNESCO và bản dịch từ Google

Theo dòng lịch sử, vào cuối thế kỷ 15, đế chế Majapahit hùng mạnh ở Java đang suy tàn. Sau khi bị đánh bại trong nhiều trận chiến, vương quốc Hindu cuối cùng ở Java đã rơi vào tay quyền lực đang lên của Vương quốc Demak theo đạo Hồi vào năm 1520, và Hồi Giáo cho đến tận hôm nay vẫn là tôn giáo lớn nhất tại Indonesia với khoảng 90% dân số. Công dân Indonesia được yêu cầu chọn theo một trong sáu tôn giáo chính thức: Hồi giáo, Tin lành, Công giáo, Ấn Độ giáo, Nho giáo và Phật giáo. Đa thần giáo và vô thần là bất hợp pháp vì chúng mâu thuẫn với thuyết độc thần do Pancasila quy định. Vì thế tôi không có khả năng trở thành công dân Indonesia và Indo cũng sẽ không thể xuất hiện một tín đồ Cao Đài hòa hảo được.

Có lẽ do chưa từng đến một thành phố nào “thuần đạo” như Jogja nên tôi đã không chuẩn bị trước tâm lý đón chờ một thành phố “sôi động” như thế vào mỗi khung giờ lễ. Vào khoảng giờ trưa, giờ tan tầm và chập tối (còn những khung giờ khác vào buổi sáng thì tôi chưa dậy), những chiếc loa từ bất kỳ một giáo đường lớn nhỏ nào cũng đều phát ra những tiếng nhạc và những lời kinh cầu mà nếu đứng gần thì tần số âm thanh hơi quá sức chịu đựng của tai. Tôi hơi nhạy cảm, bởi vậy nên tôi không mấy thiện cảm với những âm thanh như thế, nhất là khi đang lái xe hay đang dừng nghỉ giữa cái nắng trưa chiều nhiệt đới.

Tôi vẫn luôn có cảm giác dejavu tại Jogja, tôi từng nghĩ toàn bộ những gì tôi thấy và cảm nhận tại Jogja như một sự trộn lẫn của Penang, Siemreap và Mandalay, nhưng đến khi tôi ngồi trầm tư nhớ kỹ lại từng thành phố kể trên, thì lại không có một khung cảnh nào giống như đang ở tại Jogja, nhưng cảm giác dejavu đó thì vẫn luôn còn.

Trung tâm Jogja gồm những công trình pha trộn giữa Hồi Giáo và văn hóa cổ xưa của người Java, các cung điện, các bảo tàng, mà một trong số đó, nơi tôi chọn dành nhiều thời gian hơn một chút là Sonobudoyo Heritage Museum – có thể gọi tiếng Việt là Bảo tàng văn vật Sonobudoyo, có chức năng quản lý các hiện vật bảo tàng, bao gồm các bộ sưu tập có giá trị văn hóa khoa học nhằm phát triển và hướng dẫn giáo dục văn hóa. Bản thân bảo tàng cũng là một ngôi nhà joglo với kiến trúc cung điện nhà thờ Hồi giáo Cirebon.

Khi tôi bước được 1 chân vào phòng trưng bày mặt nạ ở Bảo tàng Sonobudoyo, tâm trạng rất phấn khích, biểu cảm khuôn mặt thì cả mỏ hình và phát âm đều là “úhhhhhh”… nhìn sang bên phải thì gặp ngay bác này. Đúng là những tâm hồn đồng điệu.

Hơn bảy giờ tối bước chân ra khỏi bảo tàng, trước mặt là quảng trường phía Bắc của Jogja. Một bên của quảng trường, theo hướng nhìn phía bên tay phải tôi khi đứng ở cổng bảo tàng nhìn ra, là một thánh đường lớn tấp nập người, thánh đường nhà thờ Hồi giáo Gedhe Kauman. Đi lễ xong, người ta nán lại ngay khu sân rộng ngay trước cổng thánh đường ăn bữa tối ở các sạp hàng trong sân, nơi mà có ba mươi hàng thì cả ba mươi hàng đều bán cùng những món giống hệt nhau. Ăn uống xong xuôi, vợ chồng con cái đưa nhau về, còn các đôi trẻ hẹn hò thì có thể vòng sang con phố Malioboro sôi động nhộn nhịp trong trung tâm.

Trung tâm Jogja cũng được bao kín bởi những trung tâm triển lãm tranh hay giới thiệu nghệ thuật batik truyền thống, những nơi mà nếu để khám phá hết thì tôi dám cá một tuần tại Jogja là không đủ.

Homestay mà tôi ở tại Jogja, nếu nói là ngôi nhà trong mơ của tôi thì cũng không sai một chút nào. Đó là một ngôi nhà hai tầng theo kiến trúc gì thì tôi không biết, bởi nó không phải là một trong những kiến trúc đặc trưng của người Java, nhưng lại không giống với kiểu nhà hiện đại. Ngôi nhà giống như một căn lầu hai gác ở Hội An, và bản thân nó cũng là một phòng tranh kết hợp với dịch vụ homestay, giống như một phòng tranh nào đó ở Hội An, với một khoảng nền gác hai để trống, thông xuống tầng một tạo thành một giếng trời đón ánh sáng trong nhà. Nhà có bốn phòng ở tầng một và bốn phòng ở tầng hai, với cầu thang, kèo cột, mái nhà và một phần vách nhà bằng gỗ. Tôi như bắt được một món hời lúc đến nhận phòng, khi chỉ đặt vội một đêm đầu tiên trong lúc ngồi trên taxi từ sân bay về thành phố, và đây là một trong những lựa chọn gần như là rẻ nhất cho phòng riêng trên Agoda (khoảng 250.000VND/đêm).

Chủ nhà là một cặp vợ chồng lớn tuổi mà mỗi lần chúng tôi nói chuyện với nhau đều dùng tiếng Anh theo từ khóa, một cụ ông khoảng ngoài tám mươi và một anh con trai chừng ngang hoặc hơn tuổi tôi một chút. Tôi sẽ không nói đó là một ngôi nhà mơ ước của mình nếu không phải vì một khoảnh khắc vào buổi sáng ngày thứ hai, khi đang dắt xe máy ra khỏi nhà để đi Borobudur, tôi dừng lại nhìn vào căn phòng ở góc chữ L của tầng một, ngay dưới dàn hoa sao là tiệm sửa xe mô tô của anh con trai bác chủ nhà. Có lẽ không một ai biết, tôi từng có ước muốn đi học sửa xe máy và có một tiệm sửa xe. Chính bản thân tôi cũng không biết tại sao mình lại có cái mơ ước không có một chút liên quan nào như thế, nhưng thực sự đó là một ước mơ chôn sâu trong lòng tôi đã rất nhiều năm rồi, để mà ngay khi nhìn qua cánh cửa tiệm hé mở, thấy những phụ kiện phụ tùng xe xếp đầy góc tường, những hộp đồ nghề, dụng cụ vứt la liệt dưới sàn nhà phủ bóng nắng xuyên qua lớp kính cửa sổ, tôi cũng thấy trái tim mình như phát sáng. Giờ ngồi nhà viết những dòng này, nghĩ đến căn phòng ấy, vẫn thấy tim đập rộn ràng.

Tôi bảo Jogja giống với crush, rằng cứ mỗi khi tôi phát hiện ra mình bắt đầu có tình cảm với một người, một thứ hay một nơi nào đó mà mình không thuộc về, phản ứng đầu tiên của tôi là bỏ chạy, vì trong tôi có một nỗi sợ rằng có thể chỉ chậm một giây thôi mình sẽ thay đổi ý định mà ở lại.

Những quy tắc và luật lệ nghiêm khắc của tôn giáo khiến tôi mang một cảm giác gò bó vô hình. Bạn có thể hiểu, lý giải, đồng cảm được tại sao người Hồi Giáo một ngày dù có bận rộn công việc cỡ nào cũng phải làm lễ thánh đủ 5 lần hay không? Tôi thì không. Đó là điều mà một con người vô thần, đến từ một quốc gia không có tôn giáo chính thức không thể nào hiểu được, và đó là điều khiến cho tôi và Jogja không thuộc về nhau.

Có thể nói rằng Jogja chứa đựng rất nhiều điều mà tôi không thích, nhưng chỉ ngay khi đặt xong vé tàu, tôi bắt đầu có cảm giác lưu luyến thành phố này. Để trấn an bản thân rằng thành phố này không còn điểm nào để tôi ở lại khám phá thêm nữa, tôi lên mạng lướt thêm thì đọc được một bài blog nói rằng tác giả đã bị Jogja níu chân ở lại 7 ngày liên tiếp, không với một lý do gì đặc biệt, chỉ là ở hết ngày này thì muốn ở thêm ngày khác. Điều đó đã trở thành động lực khiến tôi gọi ngay xe ra bến tàu mặc dù giờ tàu chạy vẫn còn cách hơn một tiếng. Haha.

Cho đến hiện tại, cảm giác thân thuộc ở Jogja vẫn còn trong tôi, mỗi lần nghĩ đến Jogja tôi lại lập tức có cảm giác như mình đang ở đó. Có lẽ do thuê xe máy tự đi, nên tôi thuộc từng con đường, từng ngã rẽ và những âm thanh chói tai từ những chiếc loa giáo đường vẫn vang lên rõ mồn một. Và còn nữa, một ánh mắt nhìn trong một lần đi lạc đường ở con ngõ nhỏ trong trung tâm thành phố, khu vực gần Cung điện Kraton. Khi phát hiện đi lạc đường, tôi dừng xe đột ngột ngay trước cửa một quán cà phê để quay đầu lại. Cùng lúc, một bạn tomboy đang ngồi trong sân ngẩng đầu lên nhìn, hai chúng tôi cười chào nhau. Tôi chắc chắn bạn là tomboy chứ không phải con trai, và bạn là người có đôi mắt cười và cái gật đầu dịu dàng nhất mà tôi từng thấy, ít nhất là ngay trong giây phút đó. Mặc dù tôi thẳng và mê trai, nhưng tôi vẫn luôn rung động trước những gì đẹp đẽ.

Jogja thì vẫn luôn rất đẹp, và có lẽ nó là một thành phố sẽ khiến cho tôi phải lưu luyến nhiều. Người ta thường sẽ không lưu luyến nếu biết chắc chắn sẽ còn cơ hội gặp lại nhau…

2 thoughts on “INDONESIA – JOGJA (YOGYAKARTA)

  1. Cảm ơn cô Táo Jo đã soạn và đăng bài về chuyến thăm Chùa Borobudur với những dòng chữ và hình ảnh rất hay.
    Trích: “Tôi bật cười nghĩ: ủa, không đâu, đến Niết bàn sớm thế làm gì, cháu còn phải có kiếp sau để làm hướng dẫn viên, còn muốn có thêm tám kiếp nữa để mà qua bể khổ cơ, đi thẳng đến Niết bàn luôn thì chán chết.” Bao người tốn công tốn của khi sống cầu nguyện ước mong lúc chết được lên Niết Bàn. Nay cô phán “Niết Bàn chán chết”, ắt một số người đọc cô vỡ mộng :-)) LGĐ

    Like

    1. Dạ, nếu mà chưa qua hết bể khổ thì Niết bàn cũng không có ý nghĩa gì cô nhỉ.
      Cháu cảm ơn cô đã đọc và thích bài viết 😀

      Like

Leave a reply to Táo Jo Cancel reply