INDONESIA – UBUD (BALI)

“Không có giới hạn tốc độ ở Bali”. Tôi đã cười như điên khi đọc được thông tin này và vẫn cười như thế cho đến khi ra khỏi sân bay Denpasar. Tôi gọi grab theo địa chỉ chỗ ở đặt trước, sốc ngang sốc dọc nhìn vào quãng đường hơn 12 cây số mà đồng hồ hiển thị thời gian chạy xe mất 1 tiếng. Đúng là không có giới hạn tốc độ nào cả, bạn có thể đi nhanh đến mức nào thì cứ việc đi nhanh mức đó. Tôi hít một hơi thật sâu bổ sung ôxy và tự thôi miên mình bằng câu thần chú: “Đây là giờ tan tầm, đây là giờ tan tầm, đây là giờ tan tầm”… Không biết người Bali có niệm câu thần chú này hàng ngày hay không, nhưng với niềm tin bất diệt rằng rồi chúng ta sẽ đến được với nơi mà mình muốn đến, thì đúng là Bali, vùng đất của những vị thần Hindu đây rồi.

Sau khi leo Ijen về, tôi kết thúc hành trình tại Java. Ngay trong buổi chiều hôm đó, tôi quay lại Bali bằng phà từ Ketapang rồi ngồi một xe shuttle bus từ bến phà tới Ubud. Với quy định không giới hạn tốc độ ở Bali, tôi mất hơn 6 tiếng đồng hồ cho việc qua phà và khoảng hơn 100km đường bộ. Lại một lần nữa, câu thần chú giờ tan tầm vang lên trong đầu tôi giữa những nhịp trống Gamelan, những nhịp điệu đã ru tôi ngủ trong chuyến xe đêm từ Malang đi Banyuwangi, và giờ là từ bến phà Bali về Ubud.

Ubud có lẽ là lý do đầu tiên mang nhiều người đến với Bali. Trong tất cả những cuộc nói chuyện với người lạ suốt chuyến đi, mỗi lần nhắc đến Bali, câu đầu tiên họ hỏi tôi đều là: “Mày sẽ đi những đâu ở Bali? Ubud hả?”. Ừ, Ubud.

Cái tên Ubud được lấy từ một từ gốc trong ngôn ngữ Bali, Ubad có nghĩa là thuốc, thể hiện một vùng đất thịnh vượng cho sự phát triển của các loài cây thuốc, thảo mộc. Thầy thuốc (thầy lang) là một nghề truyền thống cao quý của vùng đất này nối truyền qua nhiều đời, cũng là một nhân vật huyền bí và trí huệ được tác giả Elizabeth Gilbert miêu trả trong cuốn sách “Eat, Pray, Love” của mình. Chuyến đi này tôi mang theo “Eat, Pray, Love” để đọc, ít nhiều thì nó cũng chiếm một phần trong việc mang thế giới đến với Ubud và Bali. Đây là cuốn sách mà tôi đã từ chối đọc suốt nhiều năm qua, cho đến trước khi lên đường đi Bali, trong một lần đi hiệu sách với bạn, tôi lại một lần nữa bắt gặp nó trên kệ sách ngoại văn. Vậy là tôi mua, có lẽ đã đến lúc tôi cần đọc nó, trong những ngày ở Indo. Tôi cá rằng nếu tôi có cả mấy tháng trời để mà trải nghiệm như tác giả, Ubud hẳn sẽ không hề đáng chán như một thị trấn nhỏ tấp nập du khách quanh những điểm tham quan nổi tiếng, thậm chí, có một số điểm hiện tại đã đóng cửa hoặc chỉ mở cửa một phần cho du khách.

Xe chạy êm ru trên con đường nhựa giữa rừng cọ, như trong trailer của bộ phim “Eat, Pray, Love”, những hình ảnh xinh đẹp và hấp dẫn nhất về một hòn đảo nhiệt đới. Cùng với việc chưa đọc sách trước chuyến đi, tôi cũng chỉ mới xem qua trailer của bộ phim chứ chưa xem toàn bộ nội dung, và bởi vậy tôi không có ý định sẽ ghép Bali trong cuốn sách, một vùng đất mang đậm màu sắc tâm linh, với Bali của một chuyến du lịch ngắn ngày vào chung và bắt chúng phải khớp với nhau. Ban đầu, trong cái lịch trình mà chỉ viết ngày tháng và địa điểm mà không có nội dung chi tiết của mình, tôi để Ubud 3 đêm, sau đó, đến khi tìm đặt phòng nghỉ, tôi chỉ đặt trước hai đêm, để chừa lại một đêm linh động. Thế nhưng, những hình ảnh đang lướt qua bên ngoài khung cửa sổ nói với tôi rằng nếu có thể dành thêm một chút thời gian bên ngoài những điểm tham quan hay những trung tâm thị trấn nhộn nhịp, thì có thể bạn cũng sẽ tìm thấy được Bali trong cuốn sách ở một đâu đó giữa những thửa ruộng bậc thang, những mái nhà xen lẫn các ngôi đền Hindu dưới bóng cọ.

Tôi đổi chỗ từ ghế sau lên ngồi cạnh anh tài xế, để có được một tầm nhìn bao quát cả con đường chạy dài phía trước, với bên phải là đường cong uốn vòng theo bờ biển và vát chéo góc hai giờ là ánh mặt trời đang dịu màu dẫn theo từng phút đồng hồ, dịch xuống góc ba giờ. Mắt trời chẳng còn đủ cao để phủ nắng xuống cả rừng cọ phía bên trái, chỉ còn những mảng sáng màu vàng nâu đọng trên những tán lá ở ngang tầm mắt, tràn xuống lề đường rồi biến mất.

Khoảng tám rưỡi tối, tôi tới homestay ở Ubud, sau khi đi xuyên đoạn đường rừng tuy ngắn nhưng tối mịt không một ánh đèn, qua khoảng không đen đặc che phủ bởi bóng cây. Những ngôi làng bên lề Ubud còn hấp dẫn hơn nhiều lần những địa điểm nổi tiếng được giới thiệu trên các trang du lịch. Căn homestay mà tôi ở tại Ubud là căn nhà truyền thống của người Bali, là một tổ hợp nhiều gian nhà nhỏ ở chung trong một khuôn viên lớn của cả đại gia đình, mà ở giữa là sân trung tâm với ngôi đền thờ của gia đình được tiếp hương hoa mới mỗi ngày.

Mỗi ngôi nhà của người Bali chủ yếu có Natah (sân), Sanggah Kemulan (đền thờ gia đình), Bale Daja (ngôi nhà phía bắc), Bale Dangin (ngôi nhà phía đông), Bale Dauh (ngôi nhà phía tây), Bale Delod (ngôi nhà phía nam), Paon (nhà bếp), Lumbung (kho chứa nông sản), Kandang Celeng (chuồng lợn), Lawang (lối vào chính), Aling-aling (rào chắn) và Sanggah Pengijeng Karang (ngôi đền bảo vệ). Các yếu tố kiến trúc trong toàn bộ căn nhà được bố trí theo quan niệm của người Bali về các điểm thiêng liêng và trần tục khác nhau.

The Story of Balinese House Architecture

Phòng của tôi là một trong căn phòng trên gác hai của ngôi nhà gỗ cuối góc vườn (tôi không hỏi là hướng nào), bạn có thể tưởng tượng nó như một căn nhà sàn của người dân tộc Thái. Vốn được thiết kế cho hai người, căn phòng của tôi rộng thênh thang, bài trí đẹp như một căn bungalow của một boutique resort với những cánh cửa được chạm khắc hoa văn tỉ mỉ, lồng chụp đèn trong phòng, tủ gỗ để đồ, tủ đầu giường, thang treo khăn tắm và bàn uống nước mỗi thứ đều vô cùng mộc mạc. Ban công của ngôi nhà là nơi mà tôi yêu thích nhất, với chiếc trường kỷ bên cạnh cửa và một giá phơi đồ nhỏ, một chiếc ghế võng và một bàn cà phê cao bên lan can gỗ nhìn ra bụi chuối trước nhà. Tôi thích ngồi tại đó uống cà phê đọc sách hoặc nghe nhạc buổi sáng và uống bia buổi tối, có lúc nghe một chiếc podcast trước khi đi ngủ. Phần ban công giữa hai căn phòng cùng tầng có kê một kệ đồ với vài cuốn sách hướng dẫn du lịch và mấy món đồ trang trí địa phương. Tôi không có lời nào đủ để diễn tả về niềm yêu thích của mình đối với căn phòng này, hay bằng một cách nói khác, với việc được ở trong một căn phòng như thế, tôi có thể dành cả mười ngày trời ở Ubud có lẽ cũng chưa thấy đủ.

Tôi hỏi chị chủ nhà liệu còn đồ gì có thể ăn vào 9h tối. Chị bảo mặc dù đã hết giờ gọi đồ, nhưng chị vẫn sẽ làm mỳ xào cho tôi. Từ khi tới Indo, mỗi lần có ai hỏi: “Mày có ăn chay không?” tôi lại gật đầu như bổ củi. Thiết nghĩ không có ai ăn chay mà nói dối không chớp mắt như mình, khi mà ở Việt Nam thì lúc nào bữa ăn cũng phải có thịt. Mỗi lần tôi còn mặt dày nói thêm: “Cho em nhiều rau chút nhé”. Chị chủ nhà gật đầu cười, xào cho một đĩa rau xào mỳ chứ không phải mỳ xào rau. Hạnh phúc! Và còn hạnh phúc hơn, là khi sau một ngày dài bắt đầu với hành trình leo núi từ nửa đêm, rồi thêm sáu tiếng đồng hồ di chuyển, tổ hợp cơ-xương-khớp-sợi thần kinh của tôi được ngâm trong làn nước ấm, tắm giặt sạch sẽ thơm tho sẵn sàng cho một đêm ngon giấc.

Trung tâm Ubud là một khu vực nhỏ chừng mười con phố đan vào nhau, bao quanh Ubud Palace và Pura Taman Saraswati – hay được gọi bằng một cái tên khác có vẻ dễ nhớ hơn là Ubud Water Palace. Trên những con phố và khu chợ ở trung tâm được gọi là Ubud art market, người ta bán các món đồ thủ công mỹ nghệ làm quà lưu niệm cho du khách. Về cơ bản, nó cũng không khác với các thị trấn du lịch khác là bao, với phần diện tích phù hợp để đi bộ, với những nhà hàng, quán xá, cửa tiệm phục vụ khách du lịch. Tôi để xe máy ở bãi để xe chung bên ngoài trung tâm, bãi để xe nền đất rộng bằng một sân bóng, không có bảo vệ, không có dịch vụ trông giữ xe nào, cũng đồng nghĩa với việc không lo bị mất. Sau khi đã ghi nhớ vị trí để xe, tôi đi bộ vào trong phố, đi loanh quanh tìm một nhà hàng ăn bữa lỡ buổi sáng lúc hơn 10 giờ, xong mới bắt đầu lịch trình ngày mới với Ubud Palace.

Ubud Royal Palace là nơi ở của gia đình hoàng gia Ubud cho đến tận ngày nay. Ubud Palace phần nhiều được xây dựng từ sau năm 1917 mang kiến trúc Hindu Bali đặc trưng, là một quần thể kết hợp giữa nhà ở của cả một đại gia đình và một ngôi đền trong khuôn viên, ở đây là Puri Saren Agung với những bức tượng, những bức tường được chạm khắc tinh tế có giá trị thẩm mỹ và tín ngưỡng cao. Sân trước của Ubud Palace cũng là sân khấu của buổi diễn Legong & Barong Dance vào lúc 7h mỗi tối, ở ngay tại nơi mà vào ban ngày người ta bày bàn thông tin giới thiệu bán vé show.

Legong là một điệu múa truyền thống, cũng là một trong những buổi biểu diễn cung đình hoàng gia hấp dẫn nhất ở Bali, với những tư thế đòi hỏi thể chất và chuyển động nhịp độ nhanh, chuyện động ngón tay phức tạp cùng với những thay đổi trên biểu cảm khuôn mặt của vũ công biểu biễn. Barong là truyền thuyết về vị vua của các linh hồn, thủ lĩnh của các đạo quân tốt và là kẻ thù của Rangda, nữ hoàng quỷ và là mẹ của tất cả những kẻ canh giữ linh hồn trong truyền thống thần thoại của Bali. Trận chiến giữa Barong và Rangda được thể hiện trong điệu múa Barong tượng trưng cho cuộc chiến vĩnh cửu giữa cái thiện và cái ác. (Táo vô tình tìm được bài viết của bác Pangu Thong về các mặt nạ Barong ở Bali, mời các bạn đọc bài tại đây: BARONG MASKS IN BALI ISLAND MẶT NẠ BARONG Ở BALI)

Và trong đúng đêm rằm trung thu trăng tròn vành vạnh, tôi ngồi trên hàng ghế đầu, xem màn biểu diễn kể những tích chuyện cổ và ngắm trăng dần lên cao, như những buổi diễn chèo hay múa rối sân đình ngày nhỏ, và như những thành viên của gia đình hoàng gia Ubud.

Chỉ cách đó hai con phố, Ubud Water Palace hay còn gọi với một cái tên khác, đền thờ Pura Taman Saraswati luôn là cái tên được tìm kiếm đầu tiên khi ai đó đến với Ubud. Ngôi đền hiện tại không được mở cửa toàn bộ mà du khách chỉ có thể tham quan khuôn viên chung trước đền với điểm nổi bật là một hồ sen lớn, ven hồ có trồng những cây hoa đại (Plumeria – frangipani) trang trí, còn lối vào đền chính là cây cầu thẳng xây ngang qua hồ và được trang trí bằng các tác phẩm điêu khắc các nhân vật thần thoại Hindu. Đền Pura Taman Saraswati thờ thần Saraswati, vị thần của tri thức và nghệ thuật, cũng là vị thần quan trọng nhất trong tín ngưỡng Hindu tại Ubud, tạo nên linh hồn của vùng đất này.

Ubud có một điều đặc biệt hơn so với các thị trấn du lịch khác, đó là bạn có thể chuyển cảnh tức thì chỉ với vài bước chân, vài bước xuống phố, vài bước ra tới cánh đồng, và vài bước nữa liền đi lạc vào rừng. Nếu bạn để ý trên bản đồ, dọc con đường chính chạy xuyên qua thị trấn, phía sau Ubud Water Palace nếu đi theo hướng từ trung tâm ra, là cơ số những ngách rẽ nhỏ dẫn ra những cung đường đi bộ ở những cánh đồng bên rìa thị trấn. Những ngõ rẽ đôi khi nhỏ đến mức nếu không có bảng chỉ dẫn hoặc không thật chăm chú vào bản đồ, bạn sẽ đi lướt qua nó nhiều lần trên con phố chính tấp nập du khách. Những ngõ rẽ nhỏ mà chỉ với vài bước chân xuyên qua nó, trước mặt bạn sẽ là những hàng dừa hàng cọ thẳng tắp, những thửa ruộng bậc thang đang thời xanh lúa, hay những ngọn đồi thoải mà phía xa kia mặt trời đang chuẩn bị tan ca.

Tôi kết thúc buổi chiều ở một quán cà phê giữa cánh đồng có tên Sweet Orange, nằm trên con đường mòn mang tên của chính nó, khi mà mặt trời đã xuống dưới ngọn cây chỉ còn lại những ánh cam ngọt len lén xuyên qua những kẽ xước tán dừa. Một chiều hoàng hôn dịu dàng hương đồng gió nội, trước khi quay lại phố dạo một vòng Ubud art market ngó nghiêng những món đồ thủ công xinh xắn, dành gần hai giờ đồng hồ cho buổi biểu diễn múa sân đình, rồi đến tối muộn quay lại bãi gửi lấy xe đi ngược ra khỏi thị trấn, xuyên khoảng rừng tối trở về nhà.

Hôm sau, tôi cố gắng dậy từ sớm dành thời gian vào phố là cà ăn sáng, cà phê trước khi chính thức bắt đầu ngày mới. Sacred Monkey Forest Sanctuary rộng hơn những gì mà tôi đã tưởng tượng, và nó hoàn toàn xứng đáng với một buổi sáng đẹp trời.

Rừng Khỉ Ubud – Sacred Monkey Forest Sanctuary có một lịch sử quan trọng gắn liền với văn hóa Bali. Có niên đại từ thế kỷ 14, nó được coi là một nơi linh thiêng, nơi chứa đựng các lực lượng tâm linh và các linh hồn hộ mệnh. Khỉ, được coi là loài động vật linh thiêng, tượng trưng cho cả sự bảo vệ và sự tinh nghịch, thúc đẩy mối liên hệ độc đáo giữa con người và động vật hoang dã. Nhiệm vụ của Khu bảo tồn Rừng Khỉ thiêng (Rừng Khỉ Ubud) là bảo tồn khu vực dựa trên khái niệm Tri Hita Karana. Tri Hita Karana là một trong những triết lý trong Ấn Độ giáo. Tri Hita Karana có nguồn gốc từ chữ “Tri” có nghĩa là ba, “Hita” có nghĩa là hạnh phúc và “Karana” có nghĩa là nguyên nhân hoặc cách thức. Vì vậy, Tri Hita Karana có nghĩa là “Ba cách để đạt được sức khỏe tinh thần và thể chất”. Vào thế kỷ 20, Rừng Khỉ Ubud được công nhận là khu bảo tồn quan trọng.

(Theo UBUD MONKEY FOREST OFFICIAL WEBSITE)

Những ngôi đền trong khu rừng không được mở cửa cho du khách tham quan, chỉ được đứng ngắm nghía phía bên ngoài và đọc những thông tin sơ lược trên tấm bảng giới thiệu chung. Đổi lại, bọn khỉ thì khá là vui nhộn và tôi thì thích đi lòng vòng ngó nghiêng soi mói vào cuộc sống riêng tư của chúng, đám nhỏ thì thích chạy nhảy chuyền cành đi kiếm đồ ăn, đi xem khách du lịch, còn những cặp đôi già thì thích ngồi trầm tư bên nhau, hết bắt chấy rồi lại ôm ấp tâm sự mặc kệ dòng đời vội vã xung quanh.

Tại một góc của Ubud Monkey Forest có một phòng trưng bày tranh và các tác phẩm nghệ thuật của các nghệ sĩ tại Ubud, nơi mà người ta có thể tìm thấy những bức tranh vẽ, phù điêu… với các mức giá chỉ từ hơn một trăm cho tới hàng ngàn đô la. Trong số những bức tranh treo hôm đó, thu hút tôi nhất là những bức họa thần Saraswati, bức nào cũng đẹp mê mẩn, không hổ danh là vị thần của tri thức và nghệ thuật.

Tôi đã dự định sẽ hoàn thành Sacred Monkey Forest Sanctuary trước buổi trưa để về trả phòng và di chuyển ra bến tàu sớm, nhưng khi hết buổi sáng, trong lòng tôi gợn lên mong muốn ở lại Ubud thêm một đêm nữa. Vì tôi thích căn homestay ấy quá, và vì tôi cũng muốn có thêm một ngày chạy xe lang thang những cánh rừng hay những ngôi đền không có trên bản đồ du lịch, như ngôi đền ngay bên cạnh nhà mà hôm nào tôi cũng nghe những tiếng nhạc chuông vọng ra từ đó. Cuối cùng, tôi nhận được thông báo từ chị chủ nhà rằng homestay đã kín lịch hôm đó, tôi không thể gia hạn thêm, cũng đồng nghĩa với việc tôi sẽ rời Ubud ngay buổi trưa với hy vọng vẫn kịp chuyến tàu cuối sang đảo Penida.

Vạn sự tùy duyên, thì thôi đành duyên mình lỡ.

3 thoughts on “INDONESIA – UBUD (BALI)

    1. Đi về mới đọc thêm đấy :)) chòi oi ban đầu t nghĩ bảo viết chung Ubud Bali Penida các thứ, vì có gì để viết ra đâu. Cuối cùng có mỗi Ubud mà đã hết hơi @@

      Liked by 1 person

Leave a reply to Táo Jo Cancel reply