INDONESIA – JAVA – MALANG – IJEN

Buổi sáng đầu tiên ở Malang, sau hai tiếng đồng hồ ngồi trong ga tàu chờ trời sáng, tôi cũng đã đợi được cửa tiệm cho thuê xe cách đó vài bước chân mở cửa để thuê một chiếc xe máy chạy lên Bromo và chạy long nhong trong thời gian còn lại ở Malang. Ở cửa tiệm thuê xe, tôi lựa đi lựa lại mới chọn được một con Vario trông có vẻ mới mẻ khỏe khoắn, không quên cẩn thận hỏi lại anh chủ tiệm cho thuê xe:

“Anh chắc là con này đi được Bromo chứ?”
“Chắc, không vấn đề gì, không phải nghĩ” – anh ta nhìn con xe với ánh mắt tự tin xen chút tự hào (vì xe còn mới), rồi lại quay sang nhìn tôi nghi ngờ: “Thế còn mày, mày chắc là mày đi Bromo được chứ”.
“Chắc chắn” – tôi trả lời
“Chắc chắn?” – anh ta lặp lại.

Tôi chỉ biết xua tay cười trừ. Anh ta lấy số whatsapp để làm thông tin liên hệ, nhìn thấy bức hình tôi chụp ở Trường Sơn khi đi phượt, nên đã phần nào yên tâm giao xe cho tôi hơn. Nếu anh ta biết giao thông ở Việt Nam còn điên cuồng hơn cả Indo như thế nào, và nếu anh ta biết tôi cũng từng một lần lái xe xuyên Việt và cơ số lần ở các cung phượt phía Bắc Việt Nam, thì chắc đã không đến mức nghi ngờ khuôn mặt (mà người ta hay nghĩ là) non nớt ngây thơ này đến thế.

Lúc ở trên Cemoro Lawang (Bromo Town), nhà hàng mà tôi ăn tối có chiếc menu đa dạng hơn hầu hết các nhà hàng, quán ăn khác mà tôi từng đến ở Indonesia, và quan trọng là có phục vụ đồ uống có cồn. Khi xem xong menu, tôi hỏi lại phục vụ liệu có gợi ý món ăn nào, hay có món thịt nào khác không, bạn trả lời không với một ánh nhìn có phần ngạc nhiên và nghi ngại, lúc đó, tôi biết mình lỡ lời, đành chỉ biết cười trừ. Cemoro Lawang là vùng Hindu hiếm hoi ở Java nên khu vực này có bán các loại đồ uống có cồn, điều này khiến tôi trong phút chốc quên mất rằng mình đang ở Java.

Ở Việt Nam, nếu như Bali là cái tên được nghe nhiều nhất khi nhắc đến du lịch Indonesia thì Java và Sumatra là những cái tên được nghe nhiều hơn từ tivi, báo đài, trên các chương trình thời sự. Java là hòn đảo trung tâm văn hóa chính trị của Indonesia từ ngàn năm nay, và văn hóa của người Java cũng chiếm phần chủ đạo trong nền văn hóa Indo, một quốc gia Hồi giáo. Nếu như ở Jogja, những âm thanh phát từ loa giáo đường vào mỗi khung giờ lễ có thể khiến tôi phát điên, thì cùng là Java, Malang lại dịu dàng hơn thế nhiều lần.

Bác Naghes bạn đồng hành đi leo ngắm bình minh ở Bromo hỏi liệu tôi có từng đến một nơi nào và muốn ở lại đó sinh sống hay chưa, tôi trả lời bác là chưa, nhưng trong đầu tôi lúc đó đồng thời có một câu trả lời khác, chỉ là tôi không nói ra: “Tao nghĩ đó không phải là Java, vì ở Java thì không có rượu uống”. Nhưng khi ngồi viết những dòng này, tôi nghĩ Malang là một thành phố mà người ta có thể sống một cuộc sống mơ ước. Malang mang cái âm điệu phố núi, một phố núi đích thực như là Buôn Mê hay Pleiku, thời tiết mát mẻ, trung tâm thành phố được quy hoạch quy củ, nhiều cây xanh, cuộc sống nhẹ nhàng chậm rãi. Nhưng nghĩ lại thì lại không có rượu, nên nó lại trở thành không đáng sống với tôi rồi. Con người đúng thật là phức tạp.

Buổi tối hôm từ Bromo quay về lại Malang, sau mấy giờ đồng hồ lái xe và một giấc ngủ ngắn lấy lại sức, tôi lại xách xe đi lượn trung tâm tìm quán ăn uống như một người trẻ của thành phố. Malang nhỏ, lại hầu như không có nhà cao tầng, trông như một thành phố già, yên tĩnh, nhẹ nhàng ngay cả ở những nhà hàng có nhiều người trẻ dùng bữa tối. Tôi không biết ở các thành phố lớn của Indo sẽ như thế nào, Bali lại là một hòn đảo du lịch nên không thể mang ra so sánh, nhưng Malang chắc chắn yên tĩnh và “tối tăm” hơn Jogja khi đêm về. Tôi uống xong một chai “sparkling soju” cũng thấy hơi “chuếnh choáng”, ra khỏi nhà hàng chạy xe thêm hai vòng nữa đã thấy hàng quán đóng cửa hết, xe trên đường cũng không còn được mấy chiếc.

Ở Java, tôi chưa từng gặp một anh cảnh sát giao thông nào trong suốt cả chuyến đi, thay vào đó, là các anh các chú bảo vệ chuyên ra lề đường hoặc các ngã rẽ, các chỗ quay đầu xe để tách làn, ra hiệu giảm tốc độ để cho các xe từ vỉa hè hoặc xe quay đầu nhập vào làn mới. Tôi để ý thấy điều này luôn luôn tồn tại ở bất kỳ cung đường ngã rẽ nào, chứ không phải chỉ ở những đoạn kẹt xe hay những giờ tan tầm. Mặc dù tôi, một người Việt Nam đã quen thuộc với hệ thống giao thông nhiều xe máy lộn xộn và phức tạp, cảm thấy việc này có hơi thừa thãi, nhưng nó vẫn tạo một ấn tượng rất dễ thương.

Hôm sau ở Malang, tôi chạy theo con đường ven vườn quốc gia Tengger để đi đến chỗ có mấy thác nước đẹp của khu vực, cách trung tâm thành phố khoảng hơn 40 cây số. Thác nước mùa ấy không được đẹp lắm, đã cuối mùa khô, nước ít không thể tạo thành những cột thác ào ào đổ xuống dưới núi. Ngay cả thác ngàn dòng Tumpak Sewu cũng chỉ lác đác được vài chục dòng gọi là có nước. Đổi lại, con đường từ Malang đến Tumpak Sewu là một cung rất đẹp để lái xe. Nó gần như là một đường vòng bao quanh vườn quốc gia, nơi mà tôi có thể nhìn thấy Semeru suốt chặng đường đi.

Chiều vòng lại về thành phố, tôi loanh quanh ngắm hoàng hôn ở khu làng cầu vồng Jopidan. Nếu bạn biết về những bức họa đường phố ở Penang, Malaysia, hay những bức tranh tường ở đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi, thì Jopidan cũng là một trong những tác phẩm tương tự của địa phương để tạo điểm nhấn thu hút khách du lịch đến với Malang. Jopidan là một ngôi làng ven bờ sông, nơi trước đó (và có lẽ hiện tại vẫn vậy) được coi là khu nhà nghèo của thành phố. Khác với một Penang có quy hoạch của thành phố cho một khu phố cổ hay Lý Sơn với lác đác một vài bức vẽ, ở Jopidan, “tác phẩm” này được thực hiện trên sự tình nguyện của tất cả các hộ gia đình trong làng, tham gia vào dự án nhằm làm đẹp cho chính nơi mình sống và tự cải tạo khu vực này thành một điểm tham quan cho khách du lịch. Ở Jopidan, ban quản lý sẽ thu mỗi du khách 5,000IDR, tương đương khoảng 8,000VND cho phí tham quan và bảo tồn. Trong làng có người làm kinh doanh, bán tạp hóa và một số đồ ăn thức uống phục vụ khách du lịch (vốn rất ít ỏi), còn lại các gia đình khác vẫn sinh hoạt và làm công việc riêng của họ không liên quan gì đến dịch vụ du lịch.

Trước khi rời khỏi Malang, tôi vẫn còn đủ thời gian đứng ghẹo con mèo của cô chủ tiệm tạp hóa trước cổng vào làng, đi ăn tối ở một nhà hàng đồ Trung vì thèm đồ nước và thèm ăn cay, trả lại anh chủ tiệm thuê xe một chiếc xe lành lặn trước 8 giờ tối như đã hẹn, rồi mới gọi grab ra bến xe khách tìm xe đi Banyuwangi.

Anh lái xe grab đưa tôi vào tận trước cửa phòng bán vé của các hãng xe, còn không quên dặn dò phải hỏi mua vé ở các quầy trong kia, đừng mua linh tinh dễ bị lừa. Mỗi khi tôi nói tôi đến từ Việt Nam, lại đi du lịch một mình, điều đầu tiên mà người ta dặn tôi là cẩn thận bị lừa. Tôi vâng vâng dạ dạ cảm ơn anh ấy, trong đầu nghĩ chắc cũng không đến mức có ai lừa bán tôi đi đâu, chẳng qua ở bến xe bến tàu hay có những người dẫn mối lấy hoa hồng cao hơn so với giá vé một chút thôi. Vậy mà, do không còn xe chất lượng cao có ghế nằm thoải mái với mức giá khoảng 500-600k VND/vé, chỉ còn lại xe khách ghế ngồi thông thường nên tôi chẳng những không bị cắt thêm hoa hồng mà còn tiết kiệm được hai phần ba số tiền dự kiến ban đầu. Chiếc xe khách này cũng không khác là bao so với xe khách đi mấy chặng từ Hà Nội về các tỉnh khoảng gần chục năm về trước, chạy lòng vòng, đi hẳn một đường vòng xa hơn cả trăm cây số để đón khách, và những đoạn đường vắng thì cũng chạy đua thành tích không kém gì những người anh em ở Việt Nam xa xôi. Cũng may, tôi luôn có một niềm tin bất diệt vào tay lái của các anh các chú tài xế xe khách, dù cho không gian xung quanh có xập xình nhạc quê hương remix hay xuyên suốt cả chuyến xe 8 tiếng đồng hồ là nhịp trống Gamelan, niềm tin đó vẫn không hề lung lay.

Thường thường, mỗi chuyến đi của tôi đều có gắn với một bài hát có sẵn trong điện thoại, nhưng riêng chuyến Indonesia lần này, Gamelan giữ vị trí độc quyền. Không tính đến những thông tin trong các bảo tàng hay âm thanh của những buổi biểu diễn, Gamelan tiếp cận và đi vào trong vô thức của tôi từ những chiếc loa của các bác tài xe khách, xe shuttle bus và nó luôn ở đó, trong những giấc ngủ ngon không mộng mị.

Hãy thử tưởng tượng bạn đến các đình chùa Việt Nam vào mùa lễ hội, đi đến đâu cũng nghe văng vẳng bên tai giai điệu của Nhã Nhạc, thì ở Indo, âm thanh đó là của Gamelan, và không cần đến một mùa lễ hội mà ở bất cứ thời gian, không gian nào bạn cũng đều có khả năng sẽ nghe thấy những âm điệu quen thuộc này vang lên. Gamelan đã quẩn quanh trong đầu tôi suốt mấy tháng liền sau chuyến đi, thường xuyên và liên tục hiện lên đến mức khiến cho tôi, vốn không hề biết đến sự tồn tại của một di sản như thế mà chỉ coi nó như một đặc sản của Indo, đã lên mạng tìm kiếm để nghe lại trọn vẹn giai điệu với từ khóa: “Javanese traditional drum melody”, vì tôi thích các loại trống/chiêng và dễ ghi nhớ được nhịp trống trong các bản hòa tấu hay giai điệu. Vậy là tôi đã tìm ra nó, Gamelan, một di sản phi vật thể UNESCO.

Về Gamelan – Di sản phi vật thể UNESCO
Gamelan đề cập đến dàn nhạc gõ truyền thống của Indonesia và bộ nhạc cụ được sử dụng. Bao gồm chủ yếu các nhạc cụ gõ được trang trí công phu bằng kim loại rèn bằng tay, dàn nhạc thường bao gồm xylophone, cồng chiêng, chuông chiêng, trống, chũm chọe, nhạc cụ dây và sáo trúc.

Gamelan chỉ một bản hòa tấu nói chung, nên có rất nhiều phiên bản Gamelan khác nhau của người Java (East Java), Sunda (West Java) và Bali, có nơi âm điệu nhẹ nhàng mềm mượt hơn, có nơi mạnh mẽ nhịp nhanh hơn, cũng như những bản phối âm nhạc hiện đại theo các phong cách khác nhau.

Đây là bản đầu tiên mà tôi tìm thấy với dãy từ khóa trên, cũng rất giống với bản mà tôi đã nghe 8 tiếng đồng hồ trong chuyến xe đêm từ Malang đi Banyuwangi. Chỉ cần bạn nghe âm thanh này 8 tiếng liên tục mà không đau đầu, không cần thêm bất cứ câu thần chú nào, không cần thêm một giờ thiền nào nữa… bạn đã được kết nối với vũ trụ. Thôi Táo đùa đấy 😀

Vẫn đang đắm chìm trong những vòng lặp âm thì tôi bị bác tài gọi dậy khi xe đã tới Banyuwangi vào lúc 5 giờ sáng, lật đật xách ba lô xuống xe, ngơ ngác nhìn quanh chỉ còn lại vài người đến bến cuối giống như mình. Vì hoàn toàn không đặt gì trước trong chuyến đi này, tôi vẫn nán lại lề đường để tìm thông tin. Đứng chung với tôi là hai bạn người Tây Ban Nha đang đứng đặt gojek để về homestay mà các bạn đã đặt trước ở gần bến phà Ketapang. Chúng tôi chào hỏi nhau, các bạn chia sẻ thông tin homestay và hỏi tôi liệu có muốn đi chung để chia tiền xe. Vậy là một con lười như tôi không cần phải nghĩ cũng tới luôn homestay mà các bạn vừa cho xem thông tin chứ chẳng còn kiếm tìm gì thêm nữa. Hai bạn dừng lại ở Ketapang nhưng không đi tour đêm hôm sau giống như dự kiến của tôi, mà ngay trong ngày sẽ tự thuê xe máy chạy đến chân núi rồi lên hồ. Chiều tối quay về, các bạn sẽ qua phà và sang Bali.

Tới homestay, trong khi hai bạn vẫn đang trao đổi gì đó với chủ nhà về điều kiện điều khoản thuê phòng, thuê xe, tôi đã hỏi được cho mình một giường trống trong phòng dorm. Tôi vào cất đồ, thay đồ, đánh răng rửa mặt xong lại tiếp tục ngủ vắt lưỡi đến tận trưa. Ngủ dậy ăn trưa cà phê xong, tôi mới nói chuyện với chị chủ nhà về đặt tour buổi tối, gửi một túi đồ cần giặt cho chị rồi ôm cuốn sách ra sân trước nhà ngồi đọc. Rõ ràng trong suốt chuyến đi tôi chẳng làm gì mấy, cũng không hề chạy check-in một danh sách dài các điểm, vậy mà không hiểu sao đi du lịch vẫn cứ có cảm giác thật bận rộn. Và đây là một ngày rảnh rỗi hiếm hoi mà tôi có, nghỉ ngơi để chuẩn bị một tâm hồn đẹp cho chiếc tour khởi hành lúc 12 giờ đêm. Tôi bị “bệnh” thiếu nghị lực mỗi khi nhắc đến những từ khóa như “bình minh” hay “dậy sớm”, nên có lẽ Java là nơi mà tôi dành hết cả những phần nghị lực mạnh mẽ nhất trong đời để mà đi ngắm bình minh ở Bromo, rồi lại đi leo Ijen vào nửa đêm canh ba để xem “lửa xanh”.

12 giờ đêm khởi hành từ homestay, tới khoảng hơn 1 giờ chúng tôi mới có mặt tại cổng vào tại chân núi để tập trung đoàn đầy đủ, chuẩn bị trang thiết bị cần thiết, đến khoảng hơn 2 giờ mới bắt đầu bước những bước đầu tiên vào khu vực. Tổng số lượng người hôm đó có lẽ lên tới khoảng 1500 người hoặc hơn, bao gồm cả khách và đội hướng dẫn, hỗ trợ. Thực ra đội ngũ hỗ trợ khách tại Ijen rất đông, một đoàn 10 – 12 người thường sẽ có tất cả 3 người đi hỗ trợ, chưa kể đến các anh làm dịch vụ xe kéo xe đẩy từ chân lên tận đỉnh núi dành cho những khách hàng có nhu cầu.

Lên Ijen chỉ có một con đường bộ duy nhất, là những con dốc nối tiếp nhau mà không có một đoạn đường bằng ngừng nghỉ nào. Đã vậy, có những đoạn dốc đứng dễ phải đến bốn mươi độ, lại là đường đất rải đá dăm. Đợt đó tôi không mang theo giày leo núi, hôm ấy chỉ đeo một đôi xăng đan xỏ ngón có thể dùng để đi trek, vừa bước từng bước lên dốc vừa nghĩ: “Đường đất đá dăm thế này, đi lên thì không vấn đề gì, nhưng đến lúc xuống thì không biết sẽ phải xuống kiểu gì mới không bị trượt”. Lúc xuống mới biết, các anh các chú hỗ trợ đoàn sẽ tưới nước ướt đường để giảm bụi và để đá dính đường, chân dính đường, khách đi xuống thoải mái và an toàn. Và trên những con dốc đó, ngay giữa lúc dừng nghỉ lấy sức, tôi nghe được tiếng Việt thân thương lần đầu tiên sau hơn mười ngày ở nước bạn, lại còn là tiếng hát nghêu ngao để lấy sức tiếp tục lên đường.

Vượt con đường dốc lên đến đỉnh, nếu muốn đến khu vực lửa xanh, mọi người phải đi tiếp một con đường dốc đá xuống lòng núi, cẩn thận bước từng bước trên những tảng đá lớn nhỏ. “Nghe đồn” rằng trên trái đất chỉ có hai nơi có hiện tượng “lửa xanh”, một là ở Ijen và nơi còn lại là ở Băng đảo (Iceland). Hiện tượng lửa xanh này xảy ra do sức nóng của miệng núi lửa kết hợp với lưu huỳnh tạo ra, và chỉ có thể được nhìn thấy trong bóng tối. Đến gần khu vực có xuất hiện “lửa xanh”, đội ngũ hỗ trợ sẽ yêu cầu du khách tắt hết tất cả các đèn pin, đèn flash điện thoại, đeo mặt nạ lọc khí rồi mọi người tự giác thay phiên nhau lại gần để nhìn tận mắt. Mặc dù lượng người đông, nhưng ai cũng ý thức được mức độ nguy hiểm và độc hại của lưu huỳnh nên không hề có chen lấn xô đẩy, chỉ cần trời chưa sáng, thì ai cũng sẽ có phần.

Ảnh xấu thôi rồi, nhưng tôi chỉ có chừng đó. Tấm đầu tiên là lúc đã xem xong lửa xanh, đi lên đã được nửa đường trong khi vẫn đang có những đoàn người đi xuống. Và tấm cuối cùng là lúc bắt đầu quay lại đường xuống núi đi về. Mọi người hãy nhìn vào anh đẩy xe rùa kia, dịch vụ ship người lên Ijen tận răng nha :3

Xong phần “lửa xanh”, mọi người lại lục đục kéo nhau leo dốc đá quay lên trên đỉnh để ngắm hồ núi lửa Ijen, nơi nổi tiếng khắp cõi mạng với màu nước xanh ngọc long lanh của nó. Hồ Ijen có nồng độ axit cao, là hồ núi lửa lớn nhất thế giới với diện tích hơn 5000ha và độ sâu tới 200m. Ijen có một số điểm chụp ảnh check-in nổi tiếng, nơi mọi người xếp hàng chờ đến lượt mình, vào chớp nhoáng làm mấy tấm rồi lại đi ra nhường chỗ cho người khác. Tôi loanh quanh trên đỉnh đợi nắng lên, tận hưởng cái khung cảnh này thêm một lúc nữa rồi thong dong xuống núi cho kịp giờ tập hợp với đoàn để quay về thị trấn.

Leo lên xe tôi lại ngủ, và giữa những đoạn ngủ ngắt quãng ấy là khung cảnh cánh rừng bên ngoài cửa kính trong nắng mai, trong trẻo và xanh mát, đẹp hơn cả những tán rừng tại Cúc Phương, hay bằng một cách nói khác là đẹp vô cùng, đẹp vô thực.

Tôi kết thúc đoạn đường tại Java của mình bằng bữa sáng muộn tại homestay sau khi kết thúc tour, một bữa sáng đã bao gồm trong giá tour, nhiều rau hơn bình thường, nhiều hoa quả hơn bình thường và tất nhiên, ngon hơn tất cả những bữa ăn mà tôi từng có trước đó.

Rồi, sang phà về lại Bali thôi, tạm biệt Java!

5 thoughts on “INDONESIA – JAVA – MALANG – IJEN

    1. Vâng, mấy chỗ nổi tiếng em hay chụp lấy 1-2 cái lấy lệ, còn hay chụp linh tinh. Những cái mắt nhìn thấy thì không có cái ảnh nào tả được, nhất là những cảnh về đêm.

      Liked by 1 person

Leave a reply to Thăng Long đệ bét kiếm Cancel reply