INDONESIA – CEMORO LAWANG VÀ BÌNH MINH BROMO

Cemoro Lawang, hay theo một cách gọi dễ nhớ và quốc tế hơn là Bromo town, là thị trấn nằm gần nhất với khu vực dãy Tengger của Đông Java, mà nổi tiếng nhất là núi lửa Bromo. Cemoro Lawang cách điểm leo Bromo khoảng hơn 2km và điểm leo ngắm bình minh Kingkong Hill – đỉnh Pananjakan khoảng hơn 3km, là điểm dừng hoàn hảo nhất cho những đôi chân tự do mong muốn được chiêm ngưỡng phút giây mặt trời ló rạng bên rặng Tengger.

Từ Malang, theo con đường hiện trên Google Map thì chỉ cần lái xe khoảng gần 60km là tôi đã tới được homestay ở Cemoro Lawang, nhưng thực tế thì không được nhanh gọn lẹ như vậy. Qua cánh cổng vào vườn quốc gia, sóng điện thoại bị ngắt hoàn toàn khiến cho bản đồ không hoạt động, chặng đường hơn hai mươi cây số còn lại là quãng đường mà một bên vừa tận hưởng cảnh đẹp, một bên vừa không ngừng băn khoăn liệu mình có đi đúng đường hay không. Xuyên qua vườn quốc gia chỉ có một con đường chính nên nỗi sợ đi lạc của tôi cũng không quá lớn. Lần đầu tiên dừng lại hỏi đường sau khi cảm thấy đã đi được một đoạn khá xa, em trai bán hàng bên đường chỉ tôi cứ đi thẳng về phía trước. Đi tiếp một đoạn khá xa nữa, đến khi con đường vốn chỉ toàn dốc lên đã đổi thành dốc xuống, khi lớp cây bụi khô bên đường chuyển dần thành tán rừng xanh mát lịm che hết bóng nắng, biển chỉ dẫn bên đường chỉ ghi duy nhất cái tên Probolinggo ở bên trên con số 65km, thì tôi biết mình cần phải quay lại.

Từ Malang, nếu không muốn đi hết cả một hành trình dài hơn 120km vòng qua Probolinggo rồi lại vòng lại để đến được Cemoro Lawang theo cung đường thuận lợi nhất, thì ngoài quãng đường ngắn hơn 50km dễ đi lạc kể trên, việc phải băng qua 5km sa mạc cát ở dưới chân Bromo là điều bắt buộc. Lái xe (tay ga) trên cát tuy bụi bặm, khó lái, dễ ngã và đòi hỏi một sức lì của cả thể chất lẫn tinh thần, nhưng đổi lại, nó cũng là một trải nghiệm xứng đáng. Chỉ cần bạn đủ lì, việc đến được điểm đích hãy giao lại cho thời gian.

Hai giờ chiều đến homestay nhận phòng, bên ngoài nắng thu hanh, không gắt nhưng khô cằn y như đoạn đường bụi cát vừa đi qua. Em trai ở homestay sau khi kiểm tra thông tin hộ chiếu và chỉ chỗ dựng xe máy, dẫn tôi lên căn phòng trên tầng hai, không quên hỏi thăm chị năm nay bao nhiêu tuổi, đã lấy chồng hay chưa. Việc hỏi thăm các chị đã lấy chồng hay chưa, bằng một cách nào đó là một đề mục hiển nhiên không thể thiếu mỗi khi lên núi. Dù tôi đi bất cứ vùng núi nào, ở Việt Nam hay ở bất cứ quốc gia nào, thì chỉ cần lên đến núi là anh em hướng dẫn hay chủ homestay nào cũng đều hỏi cùng một nội dung tương tự. Nếu ở Việt Nam, các anh các em sẽ còn đề thêm vào: “Ở trên này á, con gái 20 tuổi là lấy chồng, 30 tuổi là con lớn đi học hết rồi”, đi chơi mà áp lực hơn cả về quê.

Trước khi rời phòng, em không quên dặn ngày mai muốn đi ngắm bình minh thì cần phải dậy lúc ba giờ sáng, và hỏi đi hỏi lại hai lần xem tôi có cần thuê áo ấm, ngựa hay người dẫn đường hay không. Có lẽ vì Indo là một quốc gia nhiệt đới, hoặc do du khách không có sự chuẩn bị trước nên những bình luận miêu tả về cái lạnh ở Bromo dùng từ ngữ nghe có vẻ ghê gớm lắm. Nào là âm độ, nào là đã chuẩn bị áo khoác dày nhưng không thấm vào đâu với cái lạnh. Tôi thì chỉ biết giơ chiếc áo gió một lớp lên cười giả lả lắc đầu từ chối.

Cũng lại trong một phần bình luận, tôi đọc hàng trăm lời bình về tính nhõng nhẽo khi có khi không của cô nàng nước nóng trong nhà tắm ở mọi homestay tại Cemoro Lawang, nên tranh thủ khi trời đang còn nắng ấm tôi đi tắm gội sạch sẽ, ngồi bên ngoài hiên nhà vừa nghe nhạc, vừa phơi giày cho bay bớt cát, vừa hong khô tóc, rồi đóng cửa phòng lên giường ngủ bù đêm trước ngồi tàu từ Jogja tới Malang. Giấc ngủ khi kiệt sức kéo đến rất nhanh và chìm thật sâu. Năm rưỡi chiều mơ mơ màng màng thức giấc, bên ngoài trời đã nhập nhoạng tối, sương xuống dày và buốt lạnh như những đêm mùa đông Sapa, cũng vừa đúng lúc dạ dày gào lên cơn đói.

Thị trấn bắt đầu lên đèn, dọc hai bên con đường dốc dài tít tắp là những nhà hàng quán cà phê nhỏ chỉ dăm ba bàn, ánh đèn vàng ngoài hiên sáng đến đâu, ấm áp tỏa ra nơi đó. Có lẽ trong suốt cả chuyến đi, không có một quyết định nào đúng đắn hơn việc lựa chọn ở lại Cemoro Lawang một đêm. Chưa cần nói đến việc bản thân tôi yêu thích những thị trấn nhỏ, những ngôi làng trên núi ra sao, chỉ riêng cái lạnh và bầu trời sao lấp lánh đêm đó, một bầu không khí mà chỉ một cái chạm khẽ tay cũng đủ để đánh bại mọi lời tán tỉnh ngọt ngào nhất, cũng đủ để khiến bữa ăn tối một mình không trở thành cô đơn. Tôi tự nhiên quên mất khung cảnh này đã từng xuất hiện ở một đâu đó trong ký ức của mình. Có lẽ là trong chuyến đi xuyên Việt mấy năm trước, trong một chuyến đi nào đó ở trên những vùng cao Tây Bắc, ở Đà Lạt, hoặc có thể chỉ là cảnh ở trong những thước phim. Tôi thực sự không nhớ, nhưng cảm giác đã từng trải qua nó còn chân thực hơn cả những đợt hơi sương đang len vào cơ thể qua kẽ áo.

Là một cộng đồng Hindu hiếm hoi ở Java, Cemoro Lawang là nơi duy nhất mà tôi có thể mua được bia từ những tiệm tạp hóa hay cửa hàng tiện lợi. Ăn xong bữa tối, tôi đi một vòng khoảng mấy trăm mét xuống dưới dốc cho ngấm lạnh rồi lại đi lên, xách hai lon bia về ngồi ngoài băng ghế đá trước cửa phòng, thả trôi mình trong giai điệu yêu thích và ngắm sao. Những buổi đêm trên núi thường đều chỉ như vậy. Nói nhàm chán thì cũng có chút nhàm chán, nói lãng mạn thì cũng vài phần lãng mạn. Và trong một đêm sao lãng mạn như thế, uống hết hai lon bia, tôi đi ngủ sớm. (hahaha)

Ba giờ sáng, tôi thức dậy theo đúng chuông báo thức, nhanh nhẹn đánh răng rửa mặt, thay đồ ấm, đeo giày và chuẩn bị một tâm hồn đẹp để đón chào ngày mới. Trên mạng, người ta nói rằng ở Bromo cho dù bạn có đi một mình hay nửa mình đi chăng nữa thì cũng hãy yên tâm rằng không bao giờ có chuyện bạn cô đơn lẻ loi trên đường lên núi ngắm bình minh. Vậy mà khi tôi bước chân ra đường, bên ngoài chẳng có bóng dáng một người bạn đồng hành nào, chỉ có mấy anh lái xe Jeep dậy trước chuẩn bị sẵn sàng chờ khách.

Tôi đeo tai nghe nghe nhạc, bước chậm rãi từ tốn theo con đường nhựa dẫn lên Kingkong Hill, vừa đi vừa hít sương đêm cho bổ phổi. Bên đường, chỗ xa chỗ gần hắt ra ánh đèn từ những nhà dân hay những ngôi lều canh ruộng, ngước mắt lên trên là cả một bầu trời sao li ti li ti những đốm sáng. Thi thoảng vọng lại từ xa tiếng chó sủa, tiếng vó ngựa chạy từ trên đồi đi xuống, rồi gần lại là đôi ba câu hỏi chào mời đi ngựa khiến cho quãng đường gần bốn cây số cũng không đến mức quá xa xôi hiu quạnh. Đường càng đến chân đồi dốc lên càng cao, xung quanh không còn là những cánh đồng xen với nhà dân nữa, thay vào đó là những rặng cây (phi lao) cao vút khiến con đường đi bỗng trở nên tối mịt. Tôi bật đèn pin điện thoại lấy ánh sáng nhìn đường, chầm chậm lên dốc.

Tại mỗi khúc cua, tôi ngừng lại lấy sức, cũng tắt luôn đi ánh điện sáng chói từ đèn pin và từ màn hình điện thoại. Nơi màn đêm đen kịt đến bước chân đi cũng chẳng thể thấy rõ như thế này, chính là thời điểm tuyệt vời nhất để ngẩng đầu tận hưởng trọn vẹn bầu trời sao lung linh lấp lánh hơn bất cứ khi nào khác. Tôi vẫn nhớ lần gần nhất tôi được ngắm một bầu trời sao đẹp như thế là đêm ngủ lều trên Nhìu Cồ San hai năm trước. Những bầu trời sao không nhiễm một chút xíu ánh sáng nhân tạo nào khiến con người ta ngơ ngẩn đến mức mỗi nhịp hít thở cũng không dám gấp gáp. Những bầu trời sao đêm đẹp mê mẩn, đến mức khiến người ta trong phút giây nguyện ý quên đi cả vầng dương đang chờ đợi phía trước, chỉ muốn thời gian ngưng đọng lại tại khoảnh khắc này, khung cảnh này mãi mãi.

“Kingkong Hill là điểm đón bình minh của những cá thể người vô thần hay hội những người nhận định Phật Giáo là một luận án tiến sĩ được bảo vệ thành công”. Tôi và người bạn đồng hành của mình, một bác người Mỹ gốc Ấn (Hindu), quyết định dùng khái niệm này để kỷ niệm cuộc gặp gỡ và đồng hành cùng nhau suốt chặng đường lên xuống núi suốt mấy tiếng đồng hồ cho đến tận khi quay về tới thị trấn. Tôi gặp bác ở chân đồi, ngay trước khi con đường dốc đất đá bắt đầu được xây thành từng bậc thang dẫn lên điểm vọng cảnh gần nhất. Ngay sau khi gặp bác, tôi đã nhận ra rằng tốc độ đi, dừng, nghỉ của mình chỉ bằng, và chỉ nên bằng một bác tầm ngoài năm mươi, vậy là chúng tôi trở thành bạn đồng hành của nhau.

Thay vì leo lên đỉnh ngay khi trời tối, chúng tôi dừng lại ở một điểm lưng chừng đồi, nơi có thể nhìn rõ biển mây ngay bên sườn, ngồi đợi bình minh lên. Phía xa xa dưới chân đồi vẫn thắp những ánh đèn từ dãy nhà chạy dọc theo con đường chính trong thị trấn, nối nhau như sợi dây đèn led trang trí cây đào Tết. Chúng tôi không ai nói với nhau câu nào, mỗi người ngồi im một góc ngắm biển mây tan dần, Bromo và Semeru dần hiện rõ và bầu trời đang từ từ đổi màu từng phút, theo mỗi vầng sáng lên dần từ phía Đông.

Mặt trời lên. Khoảnh khắc mà biết bao nhiêu con người đang có mặt ở đây mong chờ như để hoàn thành một ước mơ, như đã đạt được một tâm nguyện, thực ra cũng chẳng thần thánh như người ta nghĩ. Những người không leo núi sẽ thắc mắc tại sao phải vất vả leo suốt mấy tiếng đồng hồ chỉ để ngắm mặt trời lên. Những người không đi du lịch sẽ thắc mắc không hiểu Bromo hay Java có gì để đi để xem, chẳng phải mặt trời ngày nào cũng lên và ngọn núi nào cũng tương tự nhau như vậy hay sao. Ma quỷ chỉ tồn tại với những người nhìn thấy chúng và thần thánh cũng chỉ tồn tại với những kẻ hữu thần. Bình minh Bromo hay bất cứ những mỹ cảnh kỳ quan nào khác, vốn cũng chỉ là một cái cớ để người ta đi vì trong lòng người ta muốn đi mà thôi.

Trời sáng rõ, chúng tôi đi tiếp đoạn đường còn lại lên đỉnh Pananjakan để có một tầm nhìn bao quát hơn, vừa đi vừa nói chuyện du lịch, văn hóa, tôn giáo rồi cả những khái niệm liên quan đến tính cách và quan điểm sống. Vì đều là những con người hệ vô thần nên không khí cuộc trò chuyện giữa chúng tôi vô cùng vui vẻ thoải mái, những câu nói đùa cũng không sợ giẫm vào vạch kẻ mang tên phân biệt chủng tộc, phân biệt tôn giáo tín ngưỡng. Thế giới quan của tôi được phủ đầy bởi những thứ quan niệm và kiến thức nhảm nhí, nên tôi rất sợ nếu gặp phải những người quá đỗi nghiêm túc. May mắn rằng “À, tao biết thứ đó” hay “Tao đúng là kiểu người đó, đó đúng là tao” là những câu được nói nhiều nhất trong cuộc hội thoại suốt chặng đường. Chúng tôi còn nói đùa, rằng từ giờ không được nói “Oh my God” nữa, vì trong tâm có thần có thánh nào đâu.

Bác hỏi tôi có biết trong tiếng Anh có một từ là fastidious để miêu tả một kiểu tính cách con người hay không. Tôi lắc đầu. Bác giải thích rằng đó là kiểu người mà chỉ gật đầu với duy nhất một thứ mình muốn, rằng tao chỉ muốn cái này, những cái khác có hay có đẹp có tốt bao nhiêu tao cũng không cần. Bác bảo bác là người như thế. Tôi bảo tôi cũng chính là kiểu người đó, từ mới này đã được tiếp thu. Đoạn đường gần về tới thị trấn, bác hỏi tôi rằng đã khi nào tôi đi đến một nơi nào đó và mong muốn được ở lại, sinh sống ở nơi đó hay chưa. Tôi nói tôi chưa tìm thấy, nhưng thực tế thì có lẽ là do trong đầu tôi chưa bao giờ xuất hiện suy nghĩ mình sẽ sống cả một cuộc đời ở một nơi nào đó khác ngoài Việt Nam, vì tôi chính là kiểu người như bác vừa miêu tả, nên tôi chưa từng cân nhắc đến một lựa chọn nào khác, dù chỉ trong một phút giây.

Và cũng bởi là những kẻ vô thần, tôi và bác đều không có ý định đi sang leo tiếp lên miệng núi lửa Bromo, theo truyền thuyết là ngọn núi thiêng đã giúp đỡ cho nàng công chúa lập nên vương quốc Tengger xa xưa, nên đã chia tay nhau khi về đến thị trấn lúc 9h sáng. Chúng tôi trao đổi email, vâng, là email chứ không phải một phương thức liên lạc nào khác để có thể trao đổi lịch trình những nơi đã từng đi, và nghe bác dặn: “Mày đừng ngừng đi (bụi) nhé!”.

Tôi về lại phòng ngủ một giấc ngắn trước khi quay lại Malang. Vì còn hẳn một buổi chiều rảnh rỗi, vì muốn né đoạn sa mạc cát và vì đã chọn đi bụi, tức là đi hít bụi đường, nên tôi đã quyết định đi theo đường vòng dài hơn 100km về lại thành phố thay vì quay lại đường cũ. Con đường vòng đi về hướng Probolinggo mà mấy chục cây số đầu tiên chạy một mạch xuống dốc, chỉ có dốc cao hay dốc thấp, dốc đứng hay dốc thoải chứ không hề có đoạn đường bằng nào cả. Nó khiến tôi ao ước giá có một chiếc xe số hay côn tay để ung dung xuống núi, thay vì cứ phải cẩn thận bóp nhả phanh liên tục như thế này thì có phải cuộc đời đã sung sướng hơn rồi không.

Không biết có phải do giảm độ cao nhanh quá hay không, mà dù đã cố đi thật chậm lại để tận hưởng những đoạn rừng thưa, những làng mạc bên triền dốc trong trẻo mộng mơ trong nắng thu, tôi vẫn thấy hụt hẫng khi xuống đến đường quốc lộ, khi xung quanh mình không còn được bao quanh bởi núi non mây trời.

3 thoughts on “INDONESIA – CEMORO LAWANG VÀ BÌNH MINH BROMO

  1. Wow! Ảnh chụp từ đỉnh Kingkong Hill đẹp quá. Phải nói là siêu thực luôn 🙂 Mình thích tấm ảnh có cái đền Hindu. Nó tương phản với thiên nhiên hùng vĩ xung quanh.

    Mà lần sau bạn nên mang theo cái thổi bụi. Không cần chuyên dụng gì đâu, bạn ra hỏi mua cái hút mũi của trẻ em là được. Camera của mình cũng không gắn dust cover được nên cũng hay dính bụi lắm. 1-2 chấm dính trên lens thì còn xóa được, chứ nhiều quá thì khó 😛

    Like

    1. Yes, mình sẽ chú ý cái thổi bụi lần tới. Mình vô ý thật sự, biết là đi đường bụi với cát mà lúc chụp cũng không để ý lau qua cái ống kính, về nhà xem mới thấy :)))
      Từ Kingkong Hill mỗi lúc chụp lại ra một màu khác nhau, mà mình chỉ chụp tự động thôi chứ không chỉnh gì cả, nên mình cũng thấy nó kỳ diệu thật.

      Liked by 1 person

  2. Bình minh Bromo hay bất cứ những mỹ cảnh kỳ quan nào khác, vốn cũng chỉ là một cái cớ để người ta đi vì trong lòng người ta muốn đi mà thôi. -> đúng rồi đấy :)) vì muốn thôi chứ cũng chẳng vì gì khác to tát. Mà kể tiếp đi c : )

    Like

Leave a reply to Memories on the road Cancel reply